Lâu lắm rồi mới lại được sống cùng diễn biến của một bộ phim như vậy. Mặc dù đã biết trước phim của Pixar chưa bao giờ biết đến mùi thất bại, nhưng với Wall-E, Pixar đã thực hiện một cú vượt Vũ môn mới (mấy năm trước tôi cũng nói về Finding Nemo điều tương tự và trước đó nữa là Monster Inc.,...)
Trí tuệ nhân tạo không còn là đề tài mới mẻ trong điện ảnh, nhưng cũng không phải là mảnh đất màu mỡ để bất cứ đạo diễn nào nổi hứng cũng có thể nhảy vào khai thác. Steven Spielberg đã đổ hàng lít nước mắt vào bộ phim Artificial Itelligence: A.I. để biến nó thành một tấn bi kịch theo đúng nghĩa nhưng cho đến nay đây vẫn không thể được coi là thành công của đạo diễn bậc thầy này.
Không phải Paris, mà là bối cảnh trái đất tràn ngập tràn rác thải; không phải Humphrey Bogart mà là một chú người máy nhặt rác; không phải Ingrid Bergman với cặp mắt ngấn nước, mà là một cô người máy với đôi mắt được thể hiện đơn giản qua hệ thống ma trận điểm, thế nhưng Wall-E vẫn là một câu chuyện tình hết sức lãng mạn. Cũng không cần phải có những drama queen hay bất cứ cuộc hành trình tuyệt vọng nào, chỉ bằng một mối tình không thể ngộ nghĩnh và trong sáng hơn của hai người máy, con người vẫn có thể cảm thấy nhói lòng khi ngẫm về trách nhiệm của mình với thế giới, với những sản phẩm mình sáng tạo ra. Wall-E đã thể hiện rất sống động nghịch lý: con người đã rất kỳ công tạo ra những cỗ máy suy nghĩ thay mình, để rồi chính những cỗ máy đó lại thức tỉnh lương tri của con người.
Khi nhân vật Cơ trưởng gượng đứng dậy trên đôi chân ngắn cũn, do bị tiến hóa bởi thói quen sống nằm, đoạn cao trào bản Also sprach Zarathustra của Richard Strauss bỗng nổi lên đầy khí thế, và khi nhân vật này cố sức vươn cánh tay (cũng ngắn cũn) để chuyển chế độ điều khiển con tàu Axiom từ Auto sang Manual, tôi chợt nhận ra nhân loại lại một lần nữa được đứng trước buổi bình minh của một kỷ nguyên mới, không phải kỷ nguyên của bầy vượn người lúc mới biết sử dụng công cụ như trong 2001: A Space Odyssey, mà là kỷ nguyên khi con người bắt đầu chối bỏ sự tồn tại trong nang kén của máy móc để chui ra sống bằng chính sức lực của mình.
Có cảm giác đạo diễn Andrew Stanton rất thích làm phim có bối cảnh bất thường. Từ thế giới được phóng đại trong A Bug’s Life, lòng đại dương trong Finding Nemo, đến cảnh trái đất hoang tàn trong Wall-E. Thực ra thời lượng lớn hơn trong phim Wall-E diễn ra trong vũ trụ, trên con tàu Axiom, nhưng 30 phút đầu dưới trái đất mới thật sự ấn tượng. Bãi rác thải khổng lồ trên mặt đất mặc dù không có đột phá về mặt đồ họa, nhưng đã tạo ra được sự tương phản khiến người máy thăm dò sự sống EVA, trong hình hài một quả trứng trắng muốt, trở nên sinh động khác thường. Kết hợp với âm nhạc và động tác hình thể, Stanton thậm chí còn thổi vào nhân vật này một vẻ gợi tình đáng kinh ngạc. Hình ảnh Wall-E đắm đuối nhìn EVA từ từ xoay vòng, bay lên không trung có gì đó rất giống cảnh James Bond ngắm nhìn Honey Ryder trong bộ binini vừa từ dưới biển đi lên trong bộ phim Dr. No (1962). Ba mươi phút đầu phim gần như không có lời thoại, chỉ có jazz (La Vie en rose) và broadway (hello, Dolly), mà sao vẫn trữ tình đến kỳ lạ.
Từ lâu, tôi đã không coi những mỹ từ Classics hay Masterpieces chỉ đơn thuần là tên gọi hai bộ sưu tập video gia đình nổi tiếng của Walt Disney, mà tôi coi đó thực sự là thuộc tính khách quan, là danh hiệu để tôn vinh những bộ phim hoạt họa đã làm mê đắm biết bao thế hệ con người ở mọi lứa tuổi. Từ ngày chiếc đèn Pixar nhảy xổ ra để bắt đầu kỷ nguyên thống trị của hoạt họa 3D, tôi không còn cảm giác xem và cảm nhận thể loại phim này như những kiệt tác nghệ thuật nữa. Tuy nhiên chú người máy nhặt rác đã thực sự thay đổi quan điểm đó của tôi. Mặc dù không khai thác những cốt truyện kinh điển như Disney vẫn hay làm, nhưng tôi có cảm giác Pixar đã bắt đầu sáng tạo ra được những kiệt tác nghệ thuật đích thực.


