Quảng Bình, những động cát thơ
[align=center]Nguyễn Quang Vinh[/align]
Khó tìm thấy nơi nào như Quảng Bình, trùng trùng cồn cát ven biển lại chỉ toàn cát trắng. Cũng thật khó tìm thấy nơi nào lại sinh ra, nuôi dưỡng và đóng góp cho đất nước nhiều tên tuổi thi ca như Quảng Bình.
Xa xưa có các tài nhân Nguyễn Hàm Ninh, Hoài Nam, Nguyễn Trọng Cẩn, sau là Lưu Trọng Lư, sau nữa là Xuân Hoàng, Đông Trình, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Nguyễn Văn Dinh, Nguyễn Xuân Sanh, Trần Nhật Thu, Văn Lợi, Ngô Minh, Hải Kỳ, Hoàng Vũ Thuật, Mai Văn Hoan, Hồng Thế, Lý Hoài Xuân, Lê Đình Ty, mới mẻ và trẻ trung có thêm Lê Thị Mỹ Ý, Hoàng Thiên Sơn...Và cũng không nơi nào như Quảng Bình, mảnh đất gây cảm hứng và thử thách để tạo ra những cây bút thơ nổi tiếng của cả nước, đã về Quảng Bình, sống ở Quảng Bình, thành danh thơ tại Quảng Bình như Phạm Ngọc Cảnh, Chế Lan Viên, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Tạ Hữu Yên, Xuân Quỳnh, Nguyễn Hữu Quý... Nhân dân Quảng Bình xây nên những tượng đài cao dài như trùng trùng cồn cát về những chiến công chống ngoại xâm thì các nhà thơ cũng đã biết xác lập những động cát thơ tên tuổi của riêng mình góp vào cho Quảng Bình một vẻ đẹp mới, tạo nên một miền thơ mới, miền thơ ở vùng cát trắng như nước mắt...
Những bước đi trong cát lại vấp thơ...
Cảm hứng thi ca có lẽ bắt được mạch nguồn ở vùng đất Quảng Bình này nên đã sinh ra lớp lớp các nhà thơ và cũng đã tạo dựng thành danh cho nhiều nhà thơ ở nhiều vùng quê khác nhau đến tại đất này. Từ nhà tôi, chạy bộ một quãng gặp sông, chạy bộ một quãng gặp trùng trùng cồn cát, chạy bộ một quãng nữa gặp biển, chạy ngược lên gặp bát ngát ruộng lúa, lên nữa thì chạm ngay với điệp trùng Trường Sơn hùng vĩ. Cảnh đẹp như rứa, sơn thuỷ hữu tình như rứa, con người lại ham sống, anh hùng, chịu thương chịu khó như rứa, nói như các cụ ở làng: Đất mình như rứa mần răng mà không ra thơ. Cát tạo hứng cho thơ gặp nhiều ở nhà thơ Ngô Minh. Anh quê ở xã Ngư Thuỷ, cùng thôn với đại đội pháo binh nữ, trong khi các o đang mải mê bên ụ pháo bắn tàu chiến thì Ngô Minh chạy rong trong cát, tắm gội tuổi thơ mình trong cát, thành danh một nhà thơ bắt đầu với những bài thơ xuất sắc về làng cát của mình, thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, giành nhiều giải thưởng về thơ cũng bắt đầu từ những bài thơ về làng cát của mình. Những câu thơ anh viết về làng, tôi không sao quên được:
Mẹ nuôi tôi bằng hai bàn tay/ Suốt một đời bới vào cát ấy/ Bàn tay mẹ cát dăm thành vảy/ Lớp móng mòn lớp khác lại thay...Hay Hạt cát nhỏ giấu bao mùa bão cuốn/ Nấm mộ cha vừa đắp gió khoả bằng/ Mẹ goá bụa một đàn con trẻ/ Mà cát trắng băng chẳng chút mỡ màu.
Nhà thơ Quảng Bình để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng nhiều thế hệ cả về bề dày thơ ca và nhân cách là nhà thơ Xuân Hoàng. Đến như Chế Lan Viên còn phải thừa nhận: "Đến Việt Bắc, ta nhớ Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn; qua Gò Công Nam Bộ, ta nhớ Hoàng Tố Nguyên; Qua Huế nhớ Nam Trân, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải...Mỗi lần đi qua đèo Ngang, đến Quảng Bình, ta lại nhớ đến Xuân Hoàng". Và đã là người Đồng Hới từng đi qua chiến tranh chống Mỹ không ai không nhớ những câu thơ đã làm cho Đồng Hới vững tin hơn vào ngày mai, đã làm nên một phong cách thơ Xuân Hoàng:
Em đi phố nhỏ động cành dừa/ Cửa biển về khuya gió đêm ngả lạnh/ Phố nhỏ tan rồi qua bao trận đánh/ Bóng em về ấm lại dải đường xưa...
Xuân Hoàng không chỉ là nhà thơ lớn của đất nước, của Quảng Bình, anh là người thầy đầu tiên, người anh cả dẫn dắt lớp lớp các nhà thơ Quảng Bình trưởng thành và nổi tiếng: Trần Nhật Thu, Ngô Minh, Hoàng Vũ Thuật, Văn Lợi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Hải Kỳ, Lý Hoài Xuân, Mai Văn Hoan...Cát trắng chang chang như vậy, cuộc sống ngặt nghèo như vậy, nhưng cảm hứng thi ca ở vùng đất này suốt nhiều thế hệ không bao giờ cạn. Nói như câu thơ của Hữu Thỉnh khi anh vào Quảng Bình những năm chống Mỹ và cảm nhận Quảng Bình như bến đậu cho các nhà thơ để họ " chao chân" mình, tắm gội cảm hứng trước khi vào trận: Cái chao chân đủ mát/ Cho ta đi suốt đời...Một điều độc đáo khác nữa ở Quảng Bình là bên cạnh những nhà thơ thành danh, những nhà thơ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, còn xuất hiện hàng trăm, cũng có thể là hàng ngàn các tác giả thơ, những người làm thơ, thích làm thơ, say mê làm thơ ở khắp làng trên xóm dưới, trong ngoài trên dưới động cát, đi đâu cũng có thể gặp người làm thơ. Thơ hay dở không bàn, nhưng việc làng việc xã, việc cưới hỏi, việc ma chay, việc vui buồn, tất cả đều có thơ đi kèm. Thế là với Quảng Bình, thơ không chỉ làm thiên chức cảm thụ, hưởng thụ văn hoá đơn thuần, mà thơ còn là một sức mạnh tinh thần to lớn để người dân quê tôi khi khổ quá, khó khăn quá, căng thẳng quá thì vịn vào câu thơ mà đứng lên, lạc quan hơn, tự tin hơn, hay lúc quá vui thì cũng phải dùng thơ mới bày tỏ hết nỗi lòng. Thơ ở quê tôi như cát. Không có cát trắng không ra được dáng vóc gốc gác Quảng Bình, và nếu không có thơ, không làm thơ, không say thơ thì e cũng khó mà trụ được ở Quảng Bình, sống hồn nhiên vô tư đời đời kiếp kiếp ở Quảng Bình.
Ký hoạ
Tôi được chơi với nhiều nhà thơ Quảng Bình, mỗi người một tính một nết, cả cách sống, kiểu làm thơ, đọc thơ, in thơ, bán thơ...Nhà thơ Nguyễn Văn Dinh vốn đã nổi tiếng cả nước. Đời thơ ông gắn với thơ tứ tuyệt. Ông bằng tuổi cha tôi nhưng coi tôi như bạn. Gặp ông ở đâu ông cũng vồn vã, cười tươi hơn hớn và bất cứ lúc nào cũng được ông "bắn" ngay cho một bài thơ mới làm. Tôi trọng ông. Trọng nhân cách và trọng tình yêu thơ ở ông. Trọng hơn nữa, là mấy năm qua, ông lao công khổ tứ làm ra tới 110 bài thơ tứ tuyệt về Bác Hồ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đọc cũng phải cảm động viết lời tựa giới thiệu cho độc giả xa gần tìm đọc tập thơ về Bác của ông. Đặc biệt nữa, từ hàng ba chục năm rồi, nhà thơ Nguyễn Văn Dinh làm một việc có một không hai trên trái đất này, ông gom từng đồng nhuận bút thơ đi gửi tiết kiệm. Mỗi lần gửi là mỗi lần nhận được nhuận bút thơ, ngày xưa vài đồng, sau đó là vài chục đồng, rồi vài ngàn đồng, bây giờ là vài chục ngàn, vài trăm ngàn. Hoá ra ông Dinh lại có cái thú chơi nhuận bút thơ bằng sổ tiết kiệm. Nhưng tôi còn biết, ông coi nhuận bút thơ không phải là tiền, nhuận bút thơ làm sao nuôi sống được nhà thơ- ông coi nhuận bút thơ như cái dấu chân còn lại sau những chuyến đi, sau những đêm dài, sau những vật vã bên trang viết, đó không còn là tiền, hàng trăm cuốn sổ tiết kiệm ấy cộng lại không đến vài triệu bạc nhưng đó là phép cộng của bao giọt mồ hôi và công sức trong cuộc hành trình làm thơ suốt một đời của ông.
Tôi đã từng được nhà thơ Xuân Hoàng đọc thơ cho nghe. Ông đọc và cười rất to mỗi khi có được những câu thơ hay. Ông kéo tôi lại gần bên đọc cho nghe, tôi lại cố tình dịch người ra xa, ông lại hồn nhiên kéo tôi lại gần, tôi lại hồn nhiên dịch người ra xa. Chỉ đơn giản là mỗi khi được ngồi bên ông nghe thơ, nước mắt tôi chảy giàn giụa vì đau...Bởi vì ông có thói quen, mỗi lần đọc thơ, gặp câu nào tâm đắc, ông lại vồn vã với tay sang người nghe thơ mình, véo một cái, gặp đâu véo đó, tôi nghe ông đọc hai bài mà bắp đùi và mạng sườn thâm tím vì những cái véo của ông. Giờ nhớ lại thấy nhớ ông lạ lùng. Ông đang nằm bệnh trong Sài Gòn. Giờ ông có muốn véo tôi cũng không còn đủ sức. Thương ông lâm bệnh nặng và mỗi lần nhớ ông, tôi lại đưa thơ ông ra đọc. Nhà thơ Ngô Minh có tiếng cười như tiếng đạn tiểu liên, uống càng nhiều rượu càng cười tợn.
Hồi ở Huế, Ngô Minh hay say, vợ thường nổi cáu. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết: "Bạn bè ở Huế thương nhau lắm/ Một đứa vợ la chín đứa kinh...". Nhà thơ Văn Lợi thì cực tài trong làm thơ đối, thơ chân dung, thơ châm biếm, thơ hài hước. Hội nghị nào anh cũng tranh thủ đọc vài bài thơ, hay câu đối. Gặp anh vui như Tết. Hồi mắt anh chưa đi mổ, quá kém, mỗi lần thấy anh làm thơ mới khổ sở, mặt anh đặt sát giấy, tay cầm bút nghiên gập, chữ chạy loằng ngoằng, và thực sự là chữ anh chỉ có vợ anh mới đọc ra được. Thế mà anh làm thơ tình hay đáo để. Mắt anh kém nên nhìn cô gái nào anh cũng rung động. Hồi anh sang Liên Xô cũ tham quan, về nhà anh kể mãi vẫn không ra Liên Xô vì trời ơi anh có thấy Liên Xô đâu, chỉ thấy lờ mờ nhiều xe, nhiều người, nhiều nhà thôi. Bây giờ mắt anh khá nhiều rồi, gặp cô nào cũng đã biết lúng liếng mắt nhìn rồi nhưng lại không thấy anh làm thơ tình nữa. Cũng lạ. Còn nữa, không kể ra được, nhưng suốt đời không ai quên một nhà thơ Hoàng Vũ Thuật, Lý Hoài Xuân, Hải Kỳ, Thiên Sơn, Lê Đình Ty, Hồng Thế...
Vinh dự cho Quảng Bình, bên những động cát tổ tiên còn thêm những động cát thơ- những tên tuổi thơ nối nhau đi cùng năm tháng, những dòng thơ Quảng Bình lúc nào cũng ấm áp và cháy nồng như cát.
Xóm Bánh Tét đêm 14.2
Ghi chép của Nguyễn Quang Vinh đăng trên báo Lao Động số 46 ra ngày 15.02.2003


