gửi bởi thapnhat_qb » Thứ 5 Tháng 3 06, 2008 8:12 am
Quản trị thương hiệu bắt đầu từ Slogan.
Vì không phải chuyên ngành, nhưng thấy topic này hay hay nên trên cơ sở tổng hợp, nghiên cứu, cóp nhặt, thapnhat_qb mạn phép viết sơ sơ về chủ đề thương hiệu mà NN đề cấp, mong quý vị bà con cho ý kiến góp ý. Hehe!!!
[size=18]Theo Đại từ điển bách khoa trực tuyến của Anh thì quảng cáo là “những kỹ thuật và cách thức được sử dụng để quảng bá sản phẩm, dịch vụ, ý kiến …tới công chúng, nhằm mục đích thuyết phục mọi người đáp lại theo một cách nhất định đối với những gì đã được giới thiệu”. Còn slogan trong quảng cáo là một nhóm từ ngữ xuất hiện bên cạnh và hoà hợp với biểu tượng của công ty, có vai trò nhấn mạnh ấn tượng về thương hiệu trong tâm trí khách hàng.
Tuỳ theo theo từng quốc gia, từng khu vực/địa lý mà thuật ngữ “khẩu hiệu” (slogan) được gọi theo các cách khác nhau. Tại Mỹ, “khẩu hiệu” (slogan) còn được gọi là tags, tag lines, hay taglines. Tại Anh, “khẩu hiệu” được gọi là end lines, endlines, hay straplines. Người Đức ưa thích từ “claims” (thỉnh cầu) hơn, trong khi người Pháp sử dụng từ “signatures” (ký hiệu). Tại Hà Lan, “khẩu hiệu” (slogan) được gọi là pay-offs hay payoffs. Không chỉ có vậy, có nơi “khẩu hiệu” (slogan) được biết đến với cái tên rip-offs hay ripoffs. Và tại hãng ADSlogans Unlimited, “khẩu hiệu” (slogan) được gọi là slogos (khẩu hiệu bên cạnh logo).
Slogan, theo nghĩa cổ là tiếng hô của những chiến binh Scoland trước khi xung trận. Trong kinh doanh, về bản chất, slogan là một trong những yếu tố tạo nên thương hiệu, hay nói cách khác, để nhận biết được thương hiệu phải nhờ tới slogan. Slogan được hiểu như là khẩu hiệu thương mại của một doanh nghiệp. Slogan là một phần tài sản vô hình của doanh nghiệp, dù rằng nó chỉ đơn giãn là một câu nói ngắn.
Ưu thế của việc tạo dựng ngôn từ cho thương hiệu không chỉ gói gọn trong sự phù phép tài chính. Đã từ lâu, người ta thừa nhận rằng quảng cáo trực tiếp đã không còn hiệu quả nữa. Bây giờ tất cả hy vọng được đặt vào loại công cụ phức tạp và khó kiểm soát là sự phát tán thông tin thông qua chính những khách hàng đã sử dụng sản phẩm, dịch vụ hay thậm chí chỉ cần xem quảng cáo về sản phẩm.
Seth Godin, tác giả cuốn sách [color=brown]“Ý tưởng viurs” cho rằng, trước khi muốn phát tán ý tưởng, bạn cần phải tính trước xem “tác nhân” phát tán này sẽ nói những gì để cung cấp cho họ cách thức đơn giản nhất để truyền tải ý tưởng này, và slogan chính là một sự lựa chọn lý tưởng.
Slogan có tác dụng hơn hẳn bất cứ công nghệ quảng bá nào trong việc thực hiện chức năng chính của thương hiệu là khẳng định hình ảnh và củng cố phạm vi ảnh hưởng của chính cái tên sản phẩm, dịch vụ. Hiện tượng này chỉ bắt đầu tồn tại từ khi tên gọi của sản phẩm ra đời, vì thế, slogan quảng cáo được phổ biến trước hết ở những thương hiệu được các doanh nghiệp giới thiệu như một phong cách sống đặc biệt chứ không chỉ đơn thuần là một món hàng kinh doanh. Do đó để có được một slogan hay, ngoài việc đầu tư về chất xám còn phải có sự đầu tư về quảng cáo liên tục với những chiến lược dài hạn. Chính vì vậy, khi có được một slogan đứng được trong tâm trí khách hàng, slogan đó đã trở thành một tài sản vô giá được vun đắp bằng thời gian, tiền bạc và uy tín của doanh nghiệp. Slogan phải được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn “5 sao”, nghĩa là phải đảm bảo được 5 yêu cầu: đơn giản, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ nhớ và liên quan chặt chẽ với thương hiệu.
Một slogan hoàn hảo nên đáp ứng được một vài yếu tố nhất định, gợi lên trong tâm trí mọi người bất cứ lúc nào. Điều này phần lớn dựa vào việc bản sắc thương hiệu và slogan được sử dụng bao nhiêu lần trong năm. Tuy nhiên, nếu slogan kinh doanh là hoàn toàn mới, điều gì sẽ khiến nó được khắc sâu trong tâm trí mọi người? Đó chính là nó cần được nhắc đi nhắc lại trong các chương trình quảng cáo. Slogan càng tạo ra tiếng vang bao nhiêu, thì nó càng dễ nhớ bấy nhiêu.
Một Slogan tốt cần thể hiện rõ những ích lợi chủ yếu. “Engineered like no other car in the world” (Động cơ không có ở bất cứ xe hơi nào khác trên thế giới) là khẩu hiệu thành công của hãng Mercedes-Benz. “'s second-largest international scheduled airline” (Hãng hàng không quốc tế lớn thứ hai tại Anh) cũng là một khẩu hiệu tốt của hãng Air Europe.
Có một lời khuyên khá nổi tiếng trong giới tiếp thị là: “Sell the sizzle, not the steak” (Hãy bán âm thanh xèo xèo hấp dẫn, chứ không phải miếng thịt rán), ngụ ý rằng doanh nghiệp đang bán những ích lợi, chứ không phải những đặc tính. Doanh nghiệp không được bỏ qua những cơ hội khắc sâu các ích lợi chủ yếu của sản phẩm/dịch vụ trong nhận thức của khách hàng.
Thêm vào đó, một slogan tốt nên làm cho thương hiệu của doanh nghiệp trở nên khác biệt. “Heineken khơi mở lại phần mà các nhãn hiệu khác không thể với tới” là một slogan thông minh. Đây là một slogan đã ra đời từ rất sớm. Khi có yêu cầu cần làm mới lại, nó đã được mở rộng và thể hiện những tình huống khác nhau, chẳng hạn như con đường thênh thang đi qua sa mạc vào giờ cao điểm với khẩu hiệu “Chỉ duy nhất Heineken có thể làm được điều này” và sau này là những tình huống tưởng chừng như không thể nhưng rất lôi cuốn, chẳng hạn như một nhóm các kỹ sư môi trường thì thầm với nhau: “How refreshing! How Heineken!” (Mát lạnh tuyệt vời! Heineken tuyệt vời!).
Tạo nên sự khác biệt là slogan cần phải phác hoạ thành công một số đặc tính nổi bật nào đó của thương hiệu so với các đối thủ cạnh tranh, chẳng hạn như những slogan : British Rail: “We're getting there” (Chúng tôi đang tới đó), Metropolitan Home: "Mode for your abode" (Giải pháp cho sự an cư của bạn).
Một slogan thành công cũng nên gợi nhớ đến tên thương hiệu. Nếu tên thương hiệu không có mặt trong slogan, nó nên được đề cập hay liên tưởng tới. Nike đã “mạo hiểm” dành cả một chương trình quảng cáo chỉ miêu tả duy nhất có hình ảnh biểu tượng. Từ Nike không được nói ra và cũng không xuất hiện. Cách thức ký hiệu học này sẽ có tác dụng rất lớn, bởi vì nó buộc người xem phải nói ra tên nhãn hiệu.
Một trong những cách thức hiệu quả nhất để đưa tên nhãn hiệu vào trong slogan là làm cho slogan hài hoà với tên thương hiệu. Ví dụ như "See the in your Chevrolet" (Ngắm nhìn nước Mỹ với chiếc xe Chevrolet của bạn), "It’s SONY”
Sẽ rất hiệu quả khi trong slogan có sự gieo vần, cách dùng từ khéo léo, đồng thời đề cập đến tên thương hiệu.“A Mars a day helps you work, rest, and play” (Một chiếc kẹo Mars mỗi ngày giúp bạn làm việc, giải trí và vui chơi). Chắc chúng ta cũng hiểu rằng, lợi thế kinh doanh của bạn sẽ mất đi nếu tên thương hiệu và slogan không hài hoà, ăn khớp với nhau.
Một slogan hoàn hảo nên truyền tải những ấn tượng đẹp về thương hiệu: Tất cả các khẩu hiệu được đề cập ở trên đều làm tốt nhiệm vụ này. “Once driven, forever smitten” (Một khi từng lái, mãi mãi không quên) là một ví dụ, hay “Coke is it!” (Coke là thế đó).
Tương phản với điều này là những slogan kiểu thuốc lá 's Newport: "After all, if smoking isn't a pleasure, why bother?" (Cuối cùng, nếu hút thuốc không là một thoải mái, thì có gì phải băn khoăn?). Những slogan tiêu cực kiểu đó khó có thể phát huy hiệu quả. Hoặc như: Bacardi Spice (Rum): "Distilled in hell" (Nhỏ giọt trong chốn tối tăm), Hungry Joes: "Bad news for baked potatoes" (Tin tức tệ hại cho khoai tây nướng), Lea & Perrins: "Steak sauce only a cow could hate" (Nước sốt bò chỉ bò mới ghét được).
Quan trọng hơn cả, một slogan tốt sẽ không để đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng dễ dàng. Slogan của một doanh nghiệp không nên để bất kỳ ai có thể thay tên nhãn hiệu của họ vào và sử dụng luôn. Ví dụ, slogan “My goodness, my Murphy's!” (lấy cắp từ khẩu hiệu Guinness) sẽ không thể được sử dụng, nhưng slogan “A company called TRW” (Công ty được gọi là TRW) có thể trở thành “A company called …” (Công ty được gọi là … bất cứ thứ gì).
Rất nhiều slogan hoàn toàn không có sự khác biệt nào so với các đối thủ cạnh tranh, chẳng hạn như “Simply the Best” (Đơn giản là tốt nhất). Bạn có thể đưa vào đó bất cứ tên thương hiệu nào và slogan sẽ trở nên có nghĩa. Điều này đã được chứng minh khi rất nhiều doanh nghiệp sử dụng chung một kiểu slogan: Aspen: "Simply the best", Bishop's Nissan: "Simply the best", Kuoni: "Simply, the best"...
Các slogan nhạt nhẽo, vô bổ, nghèo nàn ý nghĩa cũng không nên được sử dụng, chẳng hạn như “For those who value excellence” (Cho những người đánh giá cao sự vượt trội) của Henredon Furniture, "We make it better" (Chúng tôi làm cho nó tốt đẹp hơn) của Singer, hay "We make it happen" (Chúng ta tạo ra nó) của Unisys.
Một slogan tốt còn phải mang tính chiến lược. Nhiều doanh nghiệp đã truyền tải một cách hiệu quả chiến lược kinh doanh của họ qua các slogan, chẳng hạn như “Innovation” (Đổi mới) của 3M, “Better things for better living, through chemistry” (Những điều tốt hơn cho cuộc sống đẹp hơn, nhờ hoá học) của DuPont, hay “Disease has no greater enemy” (Bệnh tật không có kẻ thù nào lớn hơn) của Glaxo/Wellcome.
Một slogan được coi là hoàn hảo cũng cần cố gắng làm sao để hợp thời. Có hai xu hướng phổ biến trong các khẩu hiệu hiện nay. Thứ nhất là khẩu hiệu trong một chữ, chẳng hạn như “Driven” của Hankook Tires (cũng được hãng Nissan sử dụng tại Mỹ), “Think” của IBM (gần đây bị đánh cắp và biến thành “Think Different”. Nhưng thật khó để truyền tải một thông điệp phức tạp với duy nhất một từ, vì vậy đã xuất hiện xu hướng thứ hai... tất cả trong ba từ ngắn gọn: ADSlogans Unlimited: “Check. Create. Inspire” (Kiểm tra. Sáng tạo. Lôi cuốn), Air với "New. Fast. Efficient." (Mới. Nhanh. Hiệu quả), Chevrolet với "Eye it. Try it. Buy it." (Nhìn. Thử. Mua), Monsanto với "Food. Health. Hope." (Thức ăn. Sức khoẻ. Hy vọng).[/color][/i][/b][/size]