Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

  
Thảo luận các vấn đề trong cuộc sống và trong QBO.

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 2 Tháng 7 16, 2012 10:35 am

(focus.QBO) Hội nghị cấp cao khu vực ASEAN đã kết thúc trong bất đồng. Lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm, hội nghị ấy đã không đạt được sự đồng thuận về một tuyên bố chung cuối cùng. Cam-Pu-Chia (nước chủ tịch luân phiên Asean) đã không làm tròn nhiệm vụ. Nhiều chuyên gia đã nhận định rằng CPC đã "bắt tay" với Trung Quốc để ... "bán đứng" Việt Nam !?? Trung Quốc đã đạt được mục tiêu thâm hiểm đó là đã chuyển được bất đồng/mâu thuẫn giữa TQ với các nước ASEAN có tranh chấp với TQ sang bất đồng/mâu thuẫn giữa các nước trong ASEAN. Tương kế tựu kế, Ngoại giao Việt Nam ... cố lên :vn . focus miềng đánh giá cao ngoại trưởng VN không bình luận gì (trong khi ngoại trượng Philippin bình luận gay gắt) về sự kiện "đáng buồn" trên của ASEAN. Các cường quốc dường như đã thức tỉnh trước một ASEAN không đồng thuận. Đây cũng là 1 lần để các nước ASEAN và các cường quốc Mỹ, Nhật, Anh, Úc,... biết được ai là ai...
Các sự kiện nổi bật kế sau đó: Trung Quốc 'thay máu' Quân khu Hải Nam, Trung Quốc trái phép "cử" 30 tàu cá xuống Trường Sa (trong đó có 1 tàu 3000 tấn) và các tàu Hải giảm "bảo vệ", Đài Loan tính chuyện kéo dài đường băng thêm 500m trên đảo Ba Bình (của Việt Nam, hiện đang bị Đài Loan chiếm trái phép), Tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương thăm Việt Nam, Thứ trưởng Quốc phòng - thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh thăm và làm việc tại Mỹ 10 ngày, Nhật Bản triệu hồi đại sứ tại TQ về nước,.....

BÀI 1: Dư luận về kết quả Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 45

(Toquoc)-Việt Nam lấy làm tiếc về việc Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm đã không ra được Thông cáo chung trong khi Bộ Ngoại giao Philippines đã ra tuyên bố chỉ trích việc Campuchia “liên tục phản đối bất kỳ sự đề cập nào về vấn đề bãi cạn Scarborough trong tuyên bố chung” còn phía Indonesia bày tỏ sự thất vọng trước kết quả này.

Các nhà ngoại giao ASEAN hôm 13/7 không tìm được tiếng nói chung về cách thức xử lý cuộc tranh chấp trên biển Đông giữa 4 nước thành viên Brunei, Malaysia, Philippines, Việt Nam với Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của ASEAN, một hội nghị cấp bộ trưởng kết thúc mà không đưa ra được tuyên bố chung.

Image
Ngoại trưởng Campuchia Namhong phát biểu bế mạc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 45

Việt Nam lấy làm tiếc

Trả lời câu hỏi của báo chí, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh, Trưởng SOM ASEAN của Việt Nam, cho biết trong suốt quá trình trao đổi để xây dựng Thông cáo chung, các nước ASEAN, trực tiếp là các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã hết sức nỗ lực, đóng góp xây dựng, tìm các công thức phù hợp nhất để phản ánh quan tâm chung của các nước thành viên và đã có nhiều cơ hội có thể đạt được đồng thuận, nhất trí chung.

Tuy nhiên, rất tiếc là những nỗ lực tích cực, xây dựng nêu trên của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và các cơ hội mở ra để đạt được đồng thuận đã bị bỏ lỡ.

Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nói: Cùng với các nước ASEAN, Đoàn Việt Nam rất lấy làm tiếc về việc Hội nghị đã không ra được Thông cáo chung, để từ đó phản ánh được quá trình trao đổi và kết quả tích cực đã đạt được trong các Hội nghị của ASEAN và giữa ASEAN với các Đối tác.

Trưởng SOM ASEAN Việt Nam bày tỏ, Việt Nam tin rằng dù có hay không có Thông cáo chung của Hội nghị, thì các quyết định đã có của ASEAN vẫn phải được nghiêm túc triển khai. Hơn bao giờ hết, các nước ASEAN cần phải nêu cao trách nhiệm, duy trì và củng cố đoàn kết ASEAN, phát huy vai trò và đóng góp chủ đạo của ASEAN trong các vấn đề ưu tiên và thiết yếu của ASEAN và khu vực, nhất là về xây dựng Cộng đồng; thúc đẩy liên kết và kết nối khu vực; xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác; tăng cường quan hệ với các Đối tác; ứng phó hiệu quả với các thách thức đang nổi lên… vì hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển ở khu vực.

Philippines chỉ trích Campuchia

Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan cho biết bất đồng nảy sinh sau khi nước chủ nhà Campuchia không chấp nhận đưa vấn đề tranh chấp ở biển Đông vào tuyên bố chung.

Ngay lập tức, Bộ Ngoại giao Philippines đã ra tuyên bố chỉ trích việc Campuchia “liên tục phản đối bất kỳ sự đề cập nào về vấn đề bãi cạn Scarborough trong tuyên bố chung”. Theo Tuyên bố của Philippines, trong thời gian hội nghị 5 ngày, Manila đã đưa ra vấn đề căng thẳng bùng phát từ tháng 4, khi xảy ra tranh chấp giữa tàu thuyền Trung Quốc và Philippines tại khu vực bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham nằm ngoài khơi phía tây bắc Philippines. Trong văn bản này nêu rằng Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario muốn Thông cáo chung của ASEAN phải đề cập đến vùng lãnh hải tranh chấp đó.

Theo hãng tin AP, tuyên bố này nhận định sự chia rẽ nói trên đã cản trở ASEAN giải quyết các tranh chấp với tư cách một khối thống nhất.

Indonesia bày tỏ sự thất vọng

Về phần mình, Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa bày tỏ sự thất vọng trước kết quả nói trên. Ông nói với hãng tin Kyodo: “Chúng ta từng trải qua nhiều khó khăn trong quá khứ, nhưng chưa bao giờ không tìm được tiếng nói chung. Tôi cho rằng thật là vô trách nhiệm nếu chúng ta không thể đưa ra một tuyên bố chung về biển Đông. Đây là thời điểm ASEAN nên hành động như một khối khi phần còn lại của khu vực kỳ vọng chúng

Trong diễn biến liên quan, Trung Quốc phản đối các nỗ lực đưa tranh chấp Biển Đông ra thảo luận tại bất cứ diễn đàn quốc tế nào, với lập luận rằng các xung đột phải được giải quyết song phương giữa Bắc Kinh và từng nước có tranh chấp vùng chồng lấn.

Ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong thì nói chính phủ ông không ủng hộ bất cứ bên nào trong các tranh chấp. Ông Namhong cho rằng việc không ra được Thông cáo chung không phải là lỗi của Campuchia mà là do các nước thành viên ASEAN.

“Tôi yêu cầu chúng ta ra Thông cáo chung mà không đả động gì đến tranh chấp ở Biển Đông… nhưng một số quốc gia thành viên cứ khăng khăng đưa vấn đề Bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham vào”, Ngoại trưởng Campuchia nói với các phóng viên.

Toquoc.gov.vn/toquoc.vn

*******************************************

BÀI 2: Nguy cơ đánh mất vai trò trung tâm của ASEAN

SGTT.VN - Từ nay đến cuối năm, con đường phía trước của ASEAN vẫn đầy cạm bẫy. Bắc Kinh có thể tiếp tục mưu đồ đánh tráo mâu thuẫn giữa Trung Quốc với ASEAN về Biển Đông thành mâu thuẫn giữa một ASEAN biển đảo với một ASEAN lục địa về Biển Đông.

Trong lịch sử Đông Nam Á, chưa bao giờ hội nghị cấp ngoại trưởng của ASEAN lại không ra được bản Thông cáo chung để tổng kết quá trình thảo luận các vấn đề sát sườn đối với khu vực. Nhưng điều không thể tưởng tượng ấy đã xảy ra với AMM/MPC45 vừa kết thúc cuối tuần qua tại Phnom Penh. Có hai cách nhìn nhận sự kiện hy hữu này. Có thể coi đây là một cú đúp đánh vào “tinh thần ASEAN” vẫn được vinh danh bấy lâu nay. Nhưng cũng có thể lạc quan cho rằng ASEAN thực sự đang trưởng thành, dám công khai những đổ vỡ trong nội bộ của mình.

Thất bại của chủ tịch ASEAN

Coi là cú đúp, vì nó vừa đánh vào vị thế, vừa đánh vào uy tín của ASEAN. Vị thế của hiệp hội, với tư cách là người dẫn dắt các tiến trình trong khu vực từ nay sẽ khó được đánh giá cao như trước. Uy tín của hiệp hội, với tư cách người giữ “vai trò trung tâm” trong các cuộc đàm phán giữa các thành viên với nhau cũng như giữa thành viên với các đối tác bên ngoài dù sao cũng bị xói mòn. Nhưng quan tâm hàng đầu của dư luận vẫn là sự cố ngoại giao mang dấu ấn Campuchia ấy sẽ để lại di chứng nặng hay nhẹ đối với tiến trình ASEAN trong năm 2012 này?

Nhẹ nhất, với kết cục không mấy tự hào, từ góc độ làm chủ tịch luân phiên ASEAN, liệu Campuchia sẽ chèo chống như thế nào trước dư luận quốc tế từ nay đến cuối năm, nếu như chưa muốn nói xa hơn nữa? Việc Campuchia để tuột khỏi tay phương tiện truyền thông hữu hiệu là bản Thông cáo chung cho thấy ảnh hưởng và sức ép của Trung Quốc đối với đất nước Chùa Tháp lớn đến nhường nào. Một cách công khai, ai cũng biết Campuchia đã được Bắc Kinh hàm ơn, vì đã dành sự ủng hộ “bền bỉ và kiên định” đối với các vấn đề liên quan đến “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc.

Nặng hơn, Campuchia có thể đẩy ASEAN vào một tình huống chưa từng có tiền lệ trước đây, nhất là liên quan đến quá trình hiện thực hoá các thoả thuận mà hiệp hội này cũng đã “kiên định và bền bỉ” thiết kế hàng năm trời. Trả lời phỏng vấn đài RFI, giáo sư Carl Thayer thuộc học viện Quốc phòng Úc đã phê phán thái độ của Campuchia. GS Thayer cho rằng Phnom Penh đã phá hoại nghiêm trọng uy tín của ASEAN. Thái độ và hành động của Campuchia trong các hội nghị tuần qua đã xoá nhoà ranh giới giữa Campuchia, một trong những thành viên ASEAN với Campuchia, một chủ tịch ASEAN.

Không ra được Thông cáo chung của AMM45 tại Phnom Penh càng khiến Mỹ cam kết thắt chặt quan hệ với ASEAN hơn trước. Nhật Bản, một nạn nhân truyền thống của Trung Quốc trên biển Hoa Đông cũng dự định sẽ tổ chức một hội nghị an ninh biển với khối ASEAN. Trong đối thoại chiến lược lần thứ hai với Việt Nam, nước Anh cũng nhấn mạnh lập trường chung rằng, các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông phải được giải quyết một cách ôn hoà, theo luật quốc tế như UNCLOS đã quy định. Xem vậy, vấn đề Biển Đông từ nay đã trở thành vấn đề đại chiến lược!

COC sẽ khả thi hay chỉ là ước vọng?

Sự cố vừa qua là thắng lợi của mưu toan chia rẽ ASEAN và là thất bại của nỗ lực tạo dựng một ASEAN thống nhất? Về vấn đề này, giáo sư Thayer phân tích: “Sự kiện ASEAN bị chia rẽ không phải là lợi ích của Mỹ. Washington quan tâm đến việc phát huy một cách tiếp cận hợp tác ngoại giao để giải quyết tranh chấp Biển Đông và hỗ trợ một bộ COC có tính chất ràng buộc. Và các ngoại trưởng ASEAN đã đạt được thoả thuận về các yếu tố chính của COC”. Khẳng định vấn đề này là để tách biệt nó với thất bại trong việc không ra được Thông cáo chung.

Nhưng Trung Quốc chỉ có thể giành được chiến thắng tạm thời, một kiểu thắng trước nhưng sẽ thua sau. GS Thayer lập luận tiếp: “Thất bại của ASEAN trong việc đưa tranh chấp bãi cạn Scarborough vào Thông cáo chung là thành công tạm thời của Trung Quốc”. Đúng là chỉ tạm thời, vì thắng lợi đó có khả năng sẽ bị suy yếu do phản ứng của nhiều nước thành viên và của các đối tác bên ngoài ASEAN đối với việc Trung Quốc đã lợi dụng một cách quá lộ liễu vai trò chủ tịch ASEAN của Campuchia như là đại diện thừa hành của chính mình (!).

Các yếu tố chính của bộ COC đã được các ngoại trưởng ASEAN ký tắt sau tám vòng thương thảo. Kế đó, ASEAN đã tiến hành ít nhất hai cuộc “tham vấn không chính thức” với Trung Quốc để chuẩn bị xúc tiến đàm phán. Các cuộc đàm phán chính thức dự kiến có thể mở ra vào tháng 9 tới. Trung Quốc cũng đã bắn tin sẵn sàng đàm phán với ASEAN khi “điều kiện chín muồi”. Còn ASEAN đã tự đặt ra thời hạn chót là tháng 11 năm nay phải đạt được thoả thuận, để bộ COC có thể được hội nghị thượng đỉnh ASEAN vào thời điểm đó thông qua.

Nhưng giờ đây, COC là một cái đích thực tế hay chỉ là một nguyện vọng xa vời của ASEAN thì chưa ai có thể cầm chắc câu trả lời. Từ nay đến cuối năm, con đường phía trước vẫn gập ghềnh và đầy cạm bẫy. Bắc Kinh có thể tiếp tục mưu đồ chuyển hoá mâu thuẫn giữa Trung Quốc với ASEAN trong vấn đề Biển Đông, thành mâu thuẫn giữa một ASEAN biển đảo với một ASEAN lục địa về Biển Đông. Và điều nguy hiểm hơn, nếu COC thất bại thì vấn đề “vai trò trung tâm” của ASEAN coi như cũng sẽ “cuốn theo chiều gió”.

Trần Hiếu Chân ( Nguồn Sgtt.vn)
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 3 Tháng 7 17, 2012 8:46 am

Luật Biển Việt Nam, một công cụ hữu hiệu để các cơ quan chức năng của Việt Nam thực thi chấp pháp trên Biển Đông. Luật Biển có hiệu lực từ 1.1.2013.
Tên văn bản : Luật Biển Việt Nam
Loại văn bản : Luật
Số hiệu : 18/2012/QH13
Ngày ban hành : 02/07/2012
Cơ quan ban hành : Quốc hội,
Người ký : Nguyễn Sinh Hùng,
Ngày hiệu lực : 01/01/2013


Dưới đây là toàn văn của Luật Biển này.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc



LUẬT
BIỂN VIỆT NAM



Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật biển Việt Nam .

CHƯƠNG I -
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG


Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.

Điều 2. Áp dụng pháp luật

1. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với quy định của luật khác về chủ quyền, chế độ pháp lý của vùng biển Việt Nam thì áp dụng quy định của Luật này.

2. Trường hợp quy định của Luật này khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

2. Vùng biển quốc tế là tất cả các vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và các quốc gia khác, nhưng không bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

3. Tàu thuyền là phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước bao gồm tàu, thuyền và các phương tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ.

4. Tàu quân sự là tàu thuyền thuộc lực lượng vũ trang của một quốc gia và mang dấu hiệu bên ngoài thể hiện rõ quốc tịch của quốc gia đó, do một sĩ quan hải quân phục vụ quốc gia đó chỉ huy, người chỉ huy này có tên trong danh sách sĩ quan hay trong một tài liệu tương đương; được điều hành bởi thuỷ thủ đoàn hoạt động theo các điều lệnh kỷ luật quân sự.

5. Tàu thuyền công vụ là tàu thuyền chuyên dùng để thực hiện các công vụ của Nhà nước không vì mục đích thương mại.

6. Tài nguyên bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc khối nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

7. Đường đẳng sâu là đường nối liền các điểm có cùng độ sâu ở biển.

Điều 4. Nguyên tắc quản lý và bảo vệ biển

1. Quản lý và bảo vệ biển được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế khác mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.

3. Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế.

Điều 5. Chính sách quản lý và bảo vệ biển

1. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển kinh tế biển.

2. Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác, bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo một cách bền vững phục vụ mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.

3. Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào việc sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế biển, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển bền vững các vùng biển phù hợp với điều kiện của từng vùng biển và bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; tăng cường thông tin, phổ biến về tiềm năng, chính sách, pháp luật về biển.

4. Khuyến khích và bảo vệ hoạt động thủy sản của ngư dân trên các vùng biển, bảo hộ hoạt động của tổ chức, công dân Việt Nam ngoài các vùng biển Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, pháp luật quốc tế, pháp luật của quốc gia ven biển có liên quan.

5. Đầu tư bảo đảm hoạt động của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển, nâng cấp cơ sở hậu cần phục vụ cho các hoạt động trên biển, đảo và quần đảo, phát triển nguồn nhân lực biển.

6. Thực hiện các chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo; chế độ ưu đãi đối với các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo.

Điều 6. Hợp tác quốc tế về biển

1. Nhà nước đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biển với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên cơ sở pháp luật quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, các bên cùng có lợi.

2. Nội dung hợp tác quốc tế về biển bao gồm:

a) Điều tra, nghiên cứu biển, đại dương; ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ;

b) Ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống và cảnh báo thiên tai;

c) Bảo vệ đa dạng sinh học biển, hệ sinh thái biển;

d) Phòng chống ô nhiễm môi trường biển, xử lý chất thải từ hoạt động kinh tế biển, ứng phó sự cố tràn dầu;

đ) Tìm kiếm, cứu nạn trên biển;

e) Phòng, chống tội phạm trên biển;

g) Khai thác bền vững tài nguyên biển, phát triển du lịch biển.

Điều 7. Quản lý nhà nước về biển

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về biển trong phạm vi cả nước.

2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về biển.

CHƯƠNG II
VÙNG BIỂN VIỆT NAM


Điều 8. Xác định đường cơ sở

Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

Điều 9. Nội thuỷ

Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.

Điều 10. Chế độ pháp lý của nội thuỷ

Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền.

Điều 11. Lãnh hải

Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển.

Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam .

Điều 12. Chế độ pháp lý của lãnh hải

1. Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

2. Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam . Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam .

3. Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

4. Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

5. Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam .

Điều 13. Vùng tiếp giáp lãnh hải

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam , có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.

Điều 14. Chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải

1. Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và các quyền khác quy định tại Điều 16 của Luật này đối với vùng tiếp giáp lãnh hải.

2. Nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam .

Điều 15. Vùng đặc quyền kinh tế

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam , hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

Điều 16. Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế

1. Trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thực hiện:

a) Quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế;

b) Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;

c) Các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế.

2. Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam .

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam.

4. Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này.

Điều 17. Thềm lục địa

Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa.

Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét (m).

Điều 18. Chế độ pháp lý của thềm lục địa

1. Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò, khai thác tài nguyên.

2. Quyền chủ quyền quy định tại khoản 1 Điều này có tính chất đặc quyền, không ai có quyền tiến hành hoạt động thăm dò thềm lục địa hoặc khai thác tài nguyên của thềm lục địa nếu không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam .

3. Nhà nước có quyền khai thác lòng đất dưới đáy biển, cho phép và quy định việc khoan nhằm bất kỳ mục đích nào ở thềm lục địa.

4. Nhà nước tôn trọng quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác của các quốc gia khác ở thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Luật này và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam .

5. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt thiết bị và công trình ở thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam.

Điều 19. Đảo, quần đảo

1. Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.

Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau.

2. Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam .

Điều 20. Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo, quần đảo

1. Đảo thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì có nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

2. Đảo đá không thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

3. Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được xác định theo quy định tại các điều 9, 11, 13, 15 và 17 của Luật này và được thể hiện bằng hải đồ, bản kê toạ độ địa lý do Chính phủ công bố.

Điều 21. Chế độ pháp lý của đảo, quần đảo

1. Nhà nước thực hiện chủ quyền trên đảo, quần đảo của Việt Nam .

2. Chế độ pháp lý đối với vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được thực hiện theo quy định tại các điều 10, 12, 14, 16 và 18 của Luật này.

CHƯƠNG III
HOẠT ĐỘNG TRONG VÙNG BIỂN VIỆT NAM


Điều 22. Quy định chung

1. Tổ chức, cá nhân hoạt động trong vùng biển Việt Nam phải tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia của Việt Nam, tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tàu thuyền, tổ chức, cá nhân hoạt động trong vùng biển Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 23. Đi qua không gây hại trong lãnh hải

1. Đi qua lãnh hải là việc tàu thuyền nước ngoài đi trong lãnh hải Việt Nam nhằm một trong các mục đích sau:

a) Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thủy Việt Nam, không neo đậu lại trong một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam ;

b) Đi vào hoặc rời khỏi nội thủy Việt Nam hay đậu lại hoặc rời khỏi một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam .

2. Việc đi qua lãnh hải phải liên tục và nhanh chóng, trừ trường hợp gặp sự cố hàng hải, sự cố bất khả kháng, gặp nạn hoặc vì mục đích phải cứu giúp người, tàu thuyền hay tàu bay đang gặp nạn.

3. Việc đi qua không gây hại trong lãnh hải không được làm phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam , trật tự an toàn trên biển. Việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam bị coi là gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn xã hội nếu tàu thuyền đó tiến hành bất kỳ một hành vi nào sau đây:

a) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam ;

b) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc;

c) Luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào;

d) Thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam ;

đ) Tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam ;

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện bay lên tàu thuyền;

g) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền;

h) Bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế, y tế hoặc xuất nhập cảnh;

i) Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển;

k) Đánh bắt hải sản trái phép;

l) Nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép;

m) Làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thông tin liên lạc hoặc của thiết bị hay công trình khác của Việt Nam ;

n) Tiến hành hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

Điều 24. Nghĩa vụ khi thực hiện quyền đi qua không gây hại

1. Khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có nghĩa vụ tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về nội dung sau đây:

a) An toàn hàng hải và điều phối giao thông đường biển, tuyến hàng hải và phân luồng giao thông;

b) Bảo vệ thiết bị và hệ thống bảo đảm hàng hải, thiết bị hay công trình khác;

c) Bảo vệ đường dây cáp và ống dẫn;

d) Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển;

đ) Hoạt động đánh bắt, khai thác và nuôi trồng hải sản;

e) Gìn giữ môi trường biển, ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển;

g) Nghiên cứu khoa học biển và đo đạc thủy văn;

h) Hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh.

2. Thuyền trưởng tàu thuyền nước ngoài chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở chất phóng xạ, chất độc hại hoặc nguy hiểm, khi đi trong lãnh hải Việt Nam có nghĩa vụ sau đây:

a) Mang đầy đủ tài liệu kỹ thuật liên quan tới tàu thuyền và hàng hóa trên tàu thuyền, tài liệu về bảo hiểm dân sự bắt buộc;

b) Sẵn sàng cung cấp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam mọi tài liệu liên quan đến thông số kỹ thuật của tàu thuyền cũng như của hàng hóa trên tàu thuyền;

c) Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa đặc biệt đúng theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên áp dụng đối với các loại tàu thuyền này;

d) Tuân thủ quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam về việc áp dụng biện pháp phòng ngừa đặc biệt, kể cả cấm không được đi qua lãnh hải Việt Nam hoặc buộc phải rời ngay khỏi lãnh hải Việt Nam trong trường hợp có dấu hiệu hoặc bằng chứng rõ ràng về khả năng gây rò rỉ hoặc làm ô nhiễm môi trường.

Điều 25. Tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại

1. Chính phủ quy định về việc công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại nhằm bảo đảm an toàn hàng hải.

2. Tàu thuyền nước ngoài chở dầu hoặc chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở chất phóng xạ, chất độc hại hay nguy hiểm khi đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam có thể bị buộc phải đi theo tuyến hàng hải quy định cụ thể cho từng trường hợp.

Điều 26. Vùng cấm và khu vực hạn chế hoạt động trong lãnh hải

1. Để bảo vệ chủ quyền, quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia hoặc an toàn hàng hải, bảo vệ tài nguyên, sinh thái biển, chống ô nhiễm, khắc phục sự cố, thảm họa môi trường biển, phòng chống lây lan dịch bệnh, Chính phủ thiết lập vùng cấm tạm thời hoặc vùng hạn chế hoạt động trong lãnh hải Việt Nam.

2. Việc thiết lập vùng cấm tạm thời hoặc vùng hạn chế hoạt động trong lãnh hải Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều này phải được thông báo rộng rãi trong nước và quốc tế trong “Thông báo hàng hải”, theo tập quán hàng hải quốc tế, chậm nhất là 15 ngày trước khi áp dụng hoặc thông báo ngay sau khi áp dụng trong trường hợp khẩn cấp.

Điều 27. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài đến Việt Nam

1. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài chỉ được đi vào nội thủy, neo đậu tại một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ hoặc công trình cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam theo lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam với quốc gia mà tàu mang cờ.

2. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài khi ở trong nội thủy, cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ hoặc các công trình cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam phải tuân thủ quy định của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan và phải hoạt động phù hợp với lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Điều 28. Trách nhiệm của tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài trong vùng biển Việt Nam

Tàu quân sự của nước ngoài khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam mà có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam thì lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam có quyền yêu cầu tàu thuyền đó chấm dứt ngay hành vi vi phạm, rời khỏi lãnh hải Việt Nam ngay lập tức nếu đang ở trong lãnh hải Việt Nam. Tàu thuyền vi phạm phải tuân thủ các yêu cầu, mệnh lệnh của lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam .

Trường hợp tàu quân sự, tàu thuyền công vụ của nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam mà có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật quốc tế có liên quan thì quốc gia mà tàu mang cờ phải chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do tàu thuyền đó gây ra cho Việt Nam.

Điều 29. Hoạt động của tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài trong nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam

Trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài phải hoạt động ở trạng thái nổi trên mặt nước và phải treo cờ quốc tịch, trừ trường hợp được phép của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và chính phủ của quốc gia mà tàu thuyền đó mang cờ.

Điều 30. Quyền tài phán hình sự đối với tàu thuyền nước ngoài

1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền tiến hành các biện pháp để bắt người, điều tra đối với tội phạm xảy ra trên tàu thuyền nước ngoài sau khi rời khỏi nội thủy và đang đi trong lãnh hải Việt Nam.

2. Đối với tội phạm xảy ra trên tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải Việt Nam nhưng không phải ngay sau khi rời khỏi nội thủy Việt Nam, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền tiến hành bắt người, điều tra trong các trường hợp sau đây:

a) Hậu quả của việc phạm tội ảnh hưởng đến Việt Nam ;

b) Việc phạm tội có tính chất phá hoại hòa bình của Việt Nam hay trật tự trong lãnh hải Việt Nam ;

c) Thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu thuyền mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ;

d) Để ngăn chặn hành vi mua bán người, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy.

3. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được tiến hành bất kỳ biện pháp nào trên tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải Việt Nam để bắt giữ người hay điều tra việc phạm tội đã xảy ra trước khi tàu thuyền đó đi vào lãnh hải Việt Nam nếu như tàu thuyền đó xuất phát từ một cảng nước ngoài và chỉ đi trong lãnh hải mà không đi vào nội thủy Việt Nam, trừ trường hợp cần ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm môi trường biển hoặc để thực hiện quyền tài phán quốc gia quy định tại điểm b khoản 1 Điều 16 của Luật này.

4. Việc thực hiện biện pháp tố tụng hình sự phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 31. Quyền tài phán dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài

1. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được buộc tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải phải dừng lại hoặc thay đổi hành trình chỉ vì mục đích thực hiện quyền tài phán dân sự đối với cá nhân đang ở trên tàu thuyền đó.

2. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được tiến hành các biện pháp bắt giữ hay xử lý về mặt dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài đang đi trong vùng biển Việt Nam, trừ nội thủy, trừ trường hợp việc thi hành các biện pháp này liên quan đến nghĩa vụ đã cam kết hay trách nhiệm dân sự mà tàu thuyền phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển Việt Nam.

3. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có thể áp dụng các biện pháp bắt giữ hay xử lý tàu thuyền nước ngoài nhằm mục đích thực hiện quyền tài phán dân sự nếu tàu thuyền đó đang đậu trong lãnh hải hoặc đi qua lãnh hải sau khi rời khỏi nội thủy Việt Nam.

Điều 32. Thông tin liên lạc trong cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam

Tổ chức, cá nhân và tàu thuyền khi ở trong các cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ hay trong công trình cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam chỉ được tiến hành thông tin liên lạc theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.

Điều 33. Tìm kiếm, cứu nạn và cứu hộ

1. Trường hợp người, tàu thuyền hoặc phương tiện bay gặp nạn hoặc nguy hiểm trên biển cần sự cứu giúp thì phải phát tín hiệu cấp cứu theo quy định và khi điều kiện cho phép phải thông báo ngay cho cảng vụ hàng hải hay trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam hay nhà chức trách địa phương nơi gần nhất biết để được giúp đỡ, hướng dẫn cần thiết.

2. Khi nhận biết tình trạng người, tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm hay nhận được tín hiệu cấp cứu của người, tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm cần được cứu giúp, mọi cá nhân, tàu thuyền khác phải bằng mọi cách tiến hành cứu giúp người, tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm nếu điều kiện thực tế cho phép và không gây nguy hiểm đến tàu thuyền, những người đang ở trên tàu thuyền của mình và kịp thời thông báo cho cá nhân, tổ chức liên quan biết.

3. Nhà nước bảo đảm sự giúp đỡ cần thiết theo quy định của pháp luật Việt Nam , pháp luật quốc tế có liên quan và trên tinh thần nhân đạo để người và tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm trên biển có thể nhanh chóng được tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả.

4. Trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam, Nhà nước có đặc quyền trong việc thực hiện các hoạt động tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ người và tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm cần sự cứu giúp.

5. Lực lượng có thẩm quyền có quyền huy động cá nhân, tàu thuyền đang hoạt động trong vùng biển Việt Nam tham gia tìm kiếm, cứu nạn nếu điều kiện thực tế cho phép và không gây nguy hiểm cho cá nhân, tàu thuyền đó.

Việc huy động và yêu cầu quy định tại khoản này chỉ được thực hiện trong trường hợp khẩn cấp và chỉ trong thời gian cần thiết để thực hiện công tác tìm kiếm, cứu nạn.

6. Việc cứu hộ hàng hải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng cứu hộ hàng hải theo thỏa thuận giữa chủ tàu thuyền hoặc thuyền trưởng tàu thuyền tham gia cứu hộ với chủ tàu thuyền hoặc thuyền trưởng của tàu thuyền gặp nạn, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.

7. Tàu thuyền nước ngoài vào vùng biển Việt Nam thực hiện việc tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 34. Đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển

1. Đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển bao gồm:

a) Các giàn khoan trên biển cùng toàn bộ các bộ phận phụ thuộc khác đảm bảo hoạt động bình thường và liên tục của các giàn khoan hoặc các thiết bị chuyên dùng để thăm dò, khai thác và sử dụng biển;

b) Các loại báo hiệu hàng hải;

c) Các thiết bị, công trình khác được lắp đặt và sử dụng ở biển.

2. Nhà nước có quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo và thiết bị, công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam , bao gồm cả quyền tài phán theo các quy định của pháp luật về hải quan, thuế, y tế, an ninh và xuất nhập cảnh.

3. Các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển và các bộ phận kèm theo hoặc phụ thuộc có vành đai an toàn 500 mét (m) tính từ điểm nhô ra xa nhất của đảo, thiết bị, công trình hoặc các bộ phận đó, nhưng không có lãnh hải và các vùng biển riêng.

4. Không xây dựng đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển cũng như không thiết lập vành đai an toàn xung quanh đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển ở nơi có nguy cơ gây trở ngại cho việc sử dụng các đường hàng hải đã được thừa nhận là thiết yếu cho hàng hải quốc tế.

5. Khi hết hạn sử dụng, thiết bị, công trình trên biển phải được tháo dỡ khỏi vùng biển Việt Nam, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cho phép. Đối với phần còn lại của thiết bị, công trình trên biển chưa kịp tháo dỡ hoàn toàn vì lý do kỹ thuật hoặc được phép gia hạn thì phải thông báo rõ vị trí, kích thước, hình dạng, độ sâu và phải đặt các tín hiệu, báo hiệu hàng hải và nguy hiểm thích hợp.

6. Thông tin liên quan tới việc thiết lập đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển, việc thiết lập vành đai an toàn xung quanh và việc tháo dỡ một phần hay toàn bộ thiết bị, công trình trên biển phải được cung cấp chậm nhất là 15 ngày trước ngày bắt đầu thiết lập hoặc tháo dỡ đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và được thông báo rộng rãi trong nước và quốc tế.

Điều 35. Gìn giữ, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển

1. Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ mọi quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan đến việc gìn giữ, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.

2. Khi vận chuyển, bốc, dỡ các loại hàng hóa, thiết bị có khả năng gây hại đối với tài nguyên, đời sống của con người và ô nhiễm môi trường biển, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân phải sử dụng thiết bị và các biện pháp chuyên dụng theo quy định để ngăn ngừa và hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra cho người, tài nguyên và môi trường biển.

3. Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được thải, nhận chìm hay chôn lấp các loại chất thải công nghiệp, chất thải hạt nhân hoặc các loại chất thải độc hại khác trong vùng biển Việt Nam .

4. Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan làm ảnh hưởng đến tài nguyên và môi trường biển trong vùng biển, cảng biển, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam thì bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; nếu gây thiệt hại thì phải làm sạch, khôi phục lại môi trường và bồi thường theo quy định của pháp luật.

5. Tổ chức, cá nhân hoạt động trên các vùng biển Việt Nam có nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản đóng góp về bảo vệ môi trường biển theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Điều 36. Nghiên cứu khoa học biển

1. Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, chịu sự giám sát của phía Việt Nam, bảo đảm cho các nhà khoa học Việt Nam được tham gia và phải cung cấp cho phía Việt Nam các tài liệu, mẫu vật gốc và các kết quả nghiên cứu liên quan.

2. Khi tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam , tàu thuyền, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ những quy định sau đây:

a) Có mục đích hòa bình;

b) Được thực hiện với phương thức và phương tiện thích hợp theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan;

c) Không được gây cản trở đối với các hoạt động hợp pháp trên biển theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan;

d) Nhà nước Việt Nam có quyền tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học của nước ngoài trong vùng biển Việt Nam và có quyền được chia sẻ các tài liệu, mẫu vật gốc, sử dụng và khai thác các kết quả khoa học thu được từ các hoạt động nghiên cứu, khảo sát đó.

Điều 37. Quy định cấm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam

Khi thực hiện quyền tự do hàng hải, tự do hàng không trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, tổ chức, cá nhân không được tiến hành các hoạt động sau đây:

1. Đe dọa chủ quyền, quốc phòng, an ninh của Việt Nam ;

2. Khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, đánh bắt hải sản trái phép;

3. Khai thác trái phép dòng chảy, năng lượng gió và tài nguyên phi sinh vật khác;

4. Xây dựng, lắp đặt, sử dụng trái phép các thiết bị, công trình nhân tạo;

5. Khoan, đào trái phép;

6. Tiến hành nghiên cứu khoa học trái phép;

7. Gây ô nhiễm môi trường biển;

8. Cướp biển, cướp có vũ trang;

9. Các hoạt động bất hợp pháp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.

Điều 38. Cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí, chất nổ, chất độc hại

Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí hoặc chất nổ, chất độc hại cũng như các loại phương tiện thiết bị khác có khả năng gây hại đối với người, tài nguyên và ô nhiễm môi trường biển.

Điều 39. Cấm mua bán người, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được mua bán người, vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy.

2. Khi có căn cứ về việc tàu thuyền, tổ chức, cá nhân đang mua bán người hoặc vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy thì lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam có quyền tiến hành khám xét, kiểm tra, bắt giữ, dẫn giải về các cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam hoặc dẫn giải, chuyển giao đến các cảng, bến hay nơi trú đậu của nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để xử lý.

Điều 40. Cấm phát sóng trái phép

Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được phát sóng trái phép hoặc tuyên truyền, gây phương hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

Điều 41. Quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài

1. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam nếu tàu thuyền này đang ở trong nội thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam .

Quyền truy đuổi được tiến hành sau khi lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển đã phát tín hiệu yêu cầu tàu thuyền vi phạm hay có dấu hiệu vi phạm pháp luật dừng lại để tiến hành kiểm tra nhưng tàu thuyền đó không chấp hành. Việc truy đuổi có thể được tiếp tục ở ngoài ranh giới của lãnh hải hay vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam nếu được tiến hành liên tục, không ngắt quãng.

2. Quyền truy đuổi cũng được áp dụng đối với hành vi vi phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, vi phạm trong phạm vi vành đai an toàn và trên các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam .

3. Việc truy đuổi của các lực lượng tuần tra, kiểm soát Việt Nam chấm dứt khi tàu thuyền bị truy đuổi đi vào lãnh hải của quốc gia khác.

CHƯƠNG IV
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN


Điều 42. Nguyên tắc phát triển kinh tế biển

Phát triển kinh tế biển bền vững, hiệu quả theo các nguyên tắc sau đây:

1. Phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

2. Gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển;

3. Phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển;

4. Gắn với phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo.

Điều 43. Phát triển các ngành kinh tế biển

Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế biển sau đây:

1. Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển;

2. Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác;

3. Du lịch biển và kinh tế đảo;

4. Khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản;

5. Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển;

6. Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển.

Điều 44. Quy hoạch phát triển kinh tế biển

1. Căn cứ lập quy hoạch phát triển kinh tế biển bao gồm:

a) Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia;

b) Định hướng chiến lược phát triển bền vững và chiến lược biển;

c) Đặc điểm, vị trí địa lý, quy luật tự nhiên của các vùng biển, vùng ven biển và hải đảo;

d) Kết quả điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển; thực trạng và dự báo nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển của cả nước, của vùng và của các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương;

đ) Giá trị tài nguyên và mức độ dễ bị tổn thương của môi trường biển;

e) Nguồn lực để thực hiện quy hoạch.

2. Nội dung quy hoạch phát triển kinh tế biển bao gồm:

a) Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng khai thác, sử dụng biển;

b) Xác định phương hướng, mục tiêu và định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển;

c) Phân vùng sử dụng biển cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; xác định các vùng cấm khai thác, các vùng khai thác có điều kiện, khu vực cần bảo vệ đặc biệt cho mục đích quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên biển;

d) Xác định vị trí, diện tích và thể hiện trên bản đồ các vùng sử dụng mặt biển, đáy biển, đảo;

đ) Xác định cụ thể các vùng bờ biển dễ bị tổn thương như bãi bồi, vùng bờ biển xói lở, rừng phòng hộ, đất ngập nước, cát ven biển, xác định vùng đệm và có các giải pháp quản lý, bảo vệ phù hợp;

e) Giải pháp và tiến độ thực hiện quy hoạch.

3. Chính phủ xây dựng phương án tổng thể phát triển các ngành kinh tế biển quy định tại Điều 43 của Luật này và tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển của cả nước trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Điều 45. Xây dựng và phát triển kinh tế biển

1. Nhà nước có chính sách đầu tư xây dựng, phát triển các khu kinh tế, cụm công nghiệp ven biển, kinh tế các huyện đảo theo quy hoạch, bảo đảm hiệu quả, phát triển bền vững.

2. Việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Điều 46. Khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế trên các đảo và hoạt động trên biển

1. Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới hậu cần biển, phát triển kinh tế các huyện đảo; có chính sách ưu đãi để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư sinh sống trên các đảo.

2. Nhà nước khuyến khích, ưu đãi về thuế, vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đầu tư khai thác tiềm năng và thế mạnh phát triển trên các đảo.

3. Nhà nước khuyến khích, ưu đãi về thuế, vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tăng cường hoạt động ngư nghiệp và các hoạt động khác trên biển, đảo; bảo vệ hoạt động của nhân dân trên biển, đảo.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

CHƯƠNG V
TUẦN TRA, KIỂM SOÁT TRÊN BIỂN


Điều 47. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển

1. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển bao gồm các lực lượng có thẩm quyền thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các lực lượng tuần tra, kiểm soát chuyên ngành khác.

2. Lực lượng dân quân tự vệ của các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương, lực lượng bảo vệ của cơ quan, tổ chức đóng ven biển và các lực lượng khác có trách nhiệm tham gia tuần tra, kiểm soát trên biển khi được cơ quan có thẩm quyền huy động.

Điều 48. Nhiệm vụ và phạm vi trách nhiệm tuần tra, kiểm soát trên biển

1. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có nhiệm vụ sau đây:

a) Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo của Việt Nam;

b) Bảo đảm việc tuân thủ pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

c) Bảo vệ tài sản nhà nước, tài nguyên và môi trường biển;

d) Bảo vệ, giúp đỡ, tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ đối với người, tàu thuyền hoạt động trên các vùng biển, đảo của Việt Nam;

đ) Xử lý hành vi vi phạm pháp luật trên các vùng biển, đảo của Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Phạm vi trách nhiệm cụ thể của các lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Nhà nước bảo đảm những điều kiện cần thiết để các lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Điều 49. Cờ, sắc phục và phù hiệu

Khi thi hành nhiệm vụ, tàu thuyền thuộc lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển phải được trang bị đầy đủ quốc kỳ Việt Nam, số hiệu, cờ hiệu; cá nhân thuộc lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển được trang bị đầy đủ quân phục, trang phục của lực lượng cùng với các dấu hiệu đặc trưng khác theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG VI
XỬ LÝ VI PHẠM


Điều 50. Dẫn giải và địa điểm xử lý vi phạm

1. Căn cứ vào quy định của pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển ra quyết định xử lý vi phạm tại chỗ hoặc dẫn giải người, tàu thuyền vi phạm vào bờ hoặc yêu cầu cơ quan hữu quan của quốc gia mà tàu mang cờ, quốc gia nơi tàu đó đến để xử lý vi phạm.

2. Khi dẫn giải vào bờ để xử lý, người và tàu thuyền vi phạm phải được áp giải về cảng, bến hay nơi trú đậu gần nhất được liệt kê trong danh mục cảng, bến hay nơi trú đậu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công bố theo quy định của pháp luật.

Trường hợp vì yêu cầu bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người trên tàu thuyền, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có thể quyết định dẫn giải người và tàu thuyền vi phạm đó đến cảng, bến hay nơi trú đậu gần nhất của Việt Nam hoặc của nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Điều 51. Biện pháp ngăn chặn

1. Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam; tàu thuyền được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm có thể bị tạm giữ nhằm ngăn chặn việc vi phạm pháp luật hoặc để bảo đảm việc xử lý theo pháp luật.

2. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam người có hành vi vi phạm pháp luật, việc tạm giữ tàu thuyền được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 52. Thông báo cho Bộ Ngoại giao

Khi tiến hành bắt, tạm giữ, tạm giam người có hành vi vi phạm pháp luật, hoặc tạm giữ tàu thuyền nước ngoài, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho Bộ Ngoại giao để phối hợp xử lý.

Điều 53. Xử lý vi phạm

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; cá nhân vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH


Điều 54. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

Điều 55. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.


Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2012.


CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Sinh Hùng
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 5 Tháng 7 19, 2012 4:45 pm

Người Trung Quốc không phải ai cũng hiếu chiến, "diều hâu", cũng có rất nhiều người phân biệt được lẽ phải. Có vẻ đây là một trong những trở ngại nội tại đầu tiên mà giới lãnh đạo TQ phải đối mặt trong quá trình "hiện thực hóa" mưu mô độc chiếm Biển Đông.

Biên tập viên Tân Hoa xã phản đối "thành phố Tam Sa"

Biên tập viên Chu Phương của Tân Hoa xã thẳng thắn bày tỏ quan điểm cực lực phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông, đòi xóa bỏ cái gọi là “thành phố Tam Sa” của Trung Quốc.

Gần đây, khi tình hình Biển Đông căng thẳng, nhất là sau khi Trung Quốc có những bước đi ngang ngược, bất chấp lẽ phải và sự thật như khẳng định yêu sách về “Đường Lưỡi bò”, lập ra cái gọi là “thành phố Tam Sa”, biên tập viên Chu Phương của Tân Hoa xã đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm cực lực phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông, đòi xóa bỏ cái gọi là “thành phố Tam Sa”...

Nhà báo Chu Phương sinh năm 1960, Cử nhân Anh văn (1982), Thạc sỹ Báo chí truyền thông (1989), từ 1989 đến nay là biên tập viên công tác tại Ban biên tập đối ngoại của Tân Hoa xã.

Ông là nhân vật nổi tiếng có quan điểm thẳng thắn trong làng báo Trung Quốc, hồi tháng 3 năm nay, từng gây chấn động dư luận bởi là người viết những bài đầu tiên đăng trên Blog Sina.com phê phán Bạc Hy Lai và “mô hình Trùng Khánh” ngay từ khi nhân vật này còn đang trên đỉnh cao danh vọng và quyền lực.

Ngày 17-7, ông cho đăng bài viết “Hiện trạng Nam Hải (Biển Đông) có lẽ sẽ kéo lùi cải cách chính trị của Trung Quốc”.

Trong đó ông viết: “Ý nghĩa lớn nhất của việc lập ra “thành phố Tam Sa” là chường cho bàn dân thiên hạ thấy nỗi nhục của Trung Quốc; đồng thời cũng sẽ buộc chính phủ và quân đội Trung Quốc phải giở bài ngửa với các quốc gia xung quanh và quốc tế... Chúng ta từ nhỏ đã được nhìn thấy tấm bản đồ Nam Hải (Biển Đông).

Một đường biên giới đứt đoạn rất thô màu hồng đưa toàn bộ Nam Hải vào trong bản đồ Trung Quốc. Cho đến ngày nay chúng ta mới biết sự thực không phải như vậy. Cái đường biên giới quốc gia ấy không những các nước láng giềng và cả quốc tế không công nhận, mà ngay chính phủ và các học giả nước ta (Trung Quốc) cũng không giải thích rõ được”.

Trước đó, ngày 29-6, Chu Phương viết bài: “Thiết lập “thành phố Tam Sa” là trò cười quốc tế, mạnh mẽ yêu cầu hủy bỏ ngay!”. Bài này đã được nhiều diễn đàn mạng đăng lại.

Chu Phương viết: “Nhiều người dân nước ta đến giờ vẫn không hiểu Nga tại sao lại lần đầu tiên tham gia cuộc diễn tập quân sự lớn Thái Bình Dương do Mỹ chủ đạo. Kỳ thực, đó chính là sự phản ứng mạnh mẽ của quốc tế trước hành động thiết lập “thành phố Tam Sa” đi ngược lại luật quốc tế và vô trách nhiệm của Trung Quốc.

Nếu giai tầng lãnh đạo Trung Quốc đến giờ vẫn không đọc hiểu được thứ ngôn ngữ quốc tế chung đó thì sẽ kéo nhân dân Trung Quốc sa vào một cuộc chiến tranh không thể thoát ra.

Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là một trò cười quốc tế điển hình. Chính phủ Trung Quốc cần sớm nhận sõ sai lầm to lớn của mình, sớm có hành động sửa chữa sai sót.

Bản thân tôi mạnh mẽ kêu gọi: hãy lập tức hủy bỏ “thành phố Tam Sa”, triển khai sớm nhất có thể được việc đối thoại mang tính xây dựng với các nước xung quanh Nam Hải (Biển Đông), dốc sức cho việc làm dịu tình hình căng thẳng ở Nam Hải, loại bỏ nguy cơ chiến tranh, đưa Trung Quốc quay trở lại với đại gia đình quốc tế”.

Chu Phương viết: “Trung Quốc đã trải qua kiểu hành động tùy tiện thời “Cách mạng văn hóa”, đã tự mình nếm trải thời kỳ “chính trị thống soái”, cần phải nhận thức được mình là thành viên của đại gia đình quốc tế, cần phải tuân thủ các chuẩn tắc và quy phạm mà cả cộng đồng quốc tế tuân theo.

Trong xử lý công việc quốc tế, nhất là xử lý các vấn đề phức tạp, tồn tại tranh chấp nghiêm trọng giữa các quốc gia, tuyệt đối không được tự mình hành động một mình theo quan niệm giá trị, quan niệm lịch sử và lập trường của mình, chỉ nói điều mình nghĩ; như thế không những không giúp gì cho việc giải quyết tranh chấp quốc tế, mà còn làm tình hình xấu thêm, gia tăng thêm quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước xung quanh.

Đồng thời cũng làm tổn hại đến hình ảnh và địa vị quốc tế của Trung Quốc, làm suy yếu tiếng nói của Trung Quốc trên trường quốc tế.

Trong vấn đề ngoại giao, trong xử lý công việc quan hệ quốc tế, chúng ta cần phải có thêm nhiều nhà ngoại giao, nhà chiến lược quốc tế và những chính trị gia thực sự có tầm để tham gia vào việc quyết sách; quyết không nghe theo tiếng gào thét của những “cuồng nhân chiến tranh” hay để cho quân sự chỉ huy chính trị. Kinh nghiệm lịch sử của tất cả các quốc gia cho thấy rõ: quân nhân can dự chính trị chỉ đem lại tai họa cho đất nước”.

Về việc chính phủ Trung Quốc vội vàng tuyên bố lập ra cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm toàn bộ vùng biển trong “Đường biên giới 9 đoạn” mà họ tự vạch ra một cách vô căn cứ, Chu Phương thẳng thắn bày tỏ quan điểm: “Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông), khiến cả quốc tế chê cười những nhà quyết sách Trung Quốc thiếu kiến thức về luật quốc tế muốn thông qua việc thiết lập “thành phố”, ngang nhiên đưa công hải (vùng biển quốc tế) vào lãnh hải của nước mình.

Cách làm sai trái ấy không chỉ tạo ra tiền lệ quốc tế, mà còn trở thành trò cười quốc tế, tất sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc. Quá trình thiết lập “thành phố Tam Sa” thể hiện sự nóng vội và cẩu thả, rõ ràng là quyết định được đưa ra thiếu luận chứng khoa học và không sáng suốt.

Hành động này không chỉ đi ngược lại luật pháp và tập quán quốc tế, mà cũng trái với những quy định pháp luật của chính Trung Quốc về việc thành lập thành phố, càng đi ngược lại quốc sách và chiến lược phát triển hòa bình phù hợp mà Trung Quốc cần có”.

Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông). Cách làm sai trái ấy không chỉ tạo ra tiền lệ quốc tế, mà còn trở thành trò cười quốc tế, tất sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc
Biên tập viên Tân Hoa Xã Chu Phương


Ông phân tích: “Hành động sai lầm nguy hiểm vô trách nhiệm của một số người trong việc thiết lập “thành phố Tam Sa” đang đẩy nhân dân Trung Quốc sa vào miệng hố chiến tranh. Nhân dân Trung Quốc cần hòa bình, không cần chiến tranh. Trong việc xử lý vấn đề quốc tế và xử lý vấn đề quan hệ với các nước, Trung Quốc cần phải tỉnh táo, không được cuồng nhiệt. Trung Quốc cần làm một dân tộc có trách nhiệm, đứng thẳng giữa khu rừng các dân tộc thế giới; quyết không thể làm một “cô nhi thế giới” hành động ngang bướng. Trong việc giải quyết công việc quốc tế, Trung Quốc cần phải học cách tuân theo quy tắc trò chơi đã được cả quốc tế công nhận, tránh một mình một kiểu, mình khen mình hay, đừng để trở thành Triều Tiên thứ hai”.

Chu Phương thẳng thắn đề xuất ý kiến cá nhân: “Đối với vấn đề “thành phố Tam Sa”, chính phủ Trung Quốc cần sớm nhận ra sai lầm lớn lao của mình, xin đừng ngại mất thể diện mà bỏ lỡ thời cơ. Trung Quốc cần sớm hành động, sửa chữa sai sót...

Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy, một Trung Quốc cô lập sẽ không có tiền đồ. Việc Nga tham gia cuộc diễn tập quân sự Thái Bình Dương vẫn chưa khiến một số chính khách và quân nhân của ta tỉnh ra.

Trong thế giới ngày nay, sự phát triển của một quốc gia càng cần có sự quan tâm, tham dự và giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Đừng nói gì Trung Quốc đang tự coi mình là “quốc gia đang phát triển”, mà ngay cả Mỹ, “Siêu cường quốc duy nhất thế giới” hiện cũng đang ngày càng biết cách lợi dụng và dựa vào cộng đồng quốc tế để đạt được mục đích của mình”.

Ông kết luận: “Thiết lập “thành phố Tam Sa” là hành động tự cô lập mình của Trung Quốc, là một sai lầm chiến lược to lớn cần phải nhanh chóng sửa chữa!”.

Thu Thủy ( dantri.com.vn)
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 6 Tháng 7 20, 2012 8:40 am

(focus.QBO) Nỗ lực lớn của Chính phủ Indonesia sau "sự cố Campuchia" khi lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm, ASEAN không đạt được một đồng thuật nào. Indonesia với tư cách là thành viên ASEAN, là quốc gia đông dân nhất trong khối ASEAN, quốc gia sáng lập ASEAN đã tỏ ra là trung gian khá uy tín và hiệu quả trong việc "níu kéo tình đoàn kết" trong khối. Nhịp độ tiếp xúc, "làm việc" của ông Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa với các nước trong khối trong mấy ngày vừa qua (đã) đạt được hiệu quả (?).
Campuchia, quốc gia đang là chủ tịch luân phiên (năm 2012) của AS từng bị chỉ trích là đã "gây mất đoàn kết", "bán láng giềng gần", "quên tình quên nghĩa",... dường như đã nhận thấy những chỉ trích này là đúng (?). Ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong (thuộc thành viên chính phủ do Hun-sen làm thủ tướng) trong mấy ngày hôm nay đã (đại diện cho chính phủ) có những hoạt động tích cực để nỗ lực sửa chữa "sai lầm" khi chưa làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm của nước chủ tịch luân phiên AS.
Hy vọng, AS sẽ có một đồng thuận đúng pháp luật quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông.

Nhìn lại lịch sử mối quan hệ tình nghĩa giữa 2 nước Việt Nam và Campuchia, giữa Thủ tướng đương nhiệm của Campuchia (Hun-sen - xem thêm thông tin về Hun-sen ở đây >>) với đất nước Việt Nam, cuộc chiến giữa Việt Nam và Khơ-me đỏ, giữa Campuchia và Trung Quốc (trong quá khứ và hiện tại) mới thấy được "hành xử" của Campuchia với các nước trong khối AS nói chung và với Việt Nam nói riêng trong Diễn đàn Khu vực ASEAN lần thứ 19 và Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 45 (AMM-45) là đáng để suy nghĩ.

Tuy nhiên, mọi thứ vẫn đang ở phía trước. Chúng ta hãy chờ đợi xem thế nào.

@ALL: Tình hình Biển Đông căng rứa mà ít thấy mọi người comment nhỉ? Cứ viết những gì mình cho là đúng. Chỗ nào sai đường lối chính sách của Đảng và nhà nước đã có bác DoHo "chỉnh" rồi. :vn :vn :vn :vn
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi truongthanh1981 » Thứ 7 Tháng 7 21, 2012 9:07 pm

1 - Chinh quyen Trung Quoc phai tuan thu vo dieu kien luat phap quoc te, cong uoc luat bien hien hanh cua lien hiep quoc.
2 - Phai tra lai Hoang Sa va mot so Dao o Truong Sa ma ho da "AN CUOP" duoc .. vi Hoang Sa - Truong Sa la cua Viet Nam .
3 - Chinh quyen Trung Quoc phai co trach nhiem giao duc cho Cong dan, Ngu dan cua ho hieu ro 2 Dieu da neu tren de Tram Nghin nam sau con chau, chut chit cua ho khong phai ho then vi To Tien cua minh la : NHUNG KE AN CUOP, NHUNG TEN CUOP BIEN CUA THE KY 21.
4 - Nuoc cong hoa dan chu nhan dan Trung Hoa phai co trach nhiem thuc thi 3 Dieu da neu tren trong vong 6 thang den 1 nam ke tu ngay bai viet nay dang tai tren QUANGBINHONLINE.

"Song nui nuoc nam vua nam o"
Ranh ranh dinh phan o sach troi
Co sao lu giac den xam pham
Chung bay se bi danh toi boi"
Gọi bạn đường khơi !
truongthanh1981
Bạn tâm giao QBO
Bạn tâm giao QBO
 
Bài viết: 93
Ngày tham gia: Thứ 7 Tháng 5 01, 2010 1:58 pm

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 6 Tháng 7 27, 2012 4:56 pm

Nghị sĩ Mỹ: TQ phạm luật khi lập 'Tam Sa'

Các hành động gần đây của Trung Quốc khi "đơn phương" khẳng định quyền kiểm soát ở các vùng lãnh thổ tranh chấp thuộc Biển Đông có thể vi phạm luật pháp quốc tế, một thượng nghị sĩ Mỹ cho biết.

Image
Thượng nghị sĩ Jim Web. Ảnh: AP

Thượng nghị sĩ Jim Webb đã thúc giục Bộ Ngoại giao Mỹ làm rõ tình hình này với Bắc Kinh và báo cáo lại cho quốc hội. "Với sự trỗi dậy của một phe nhóm nào đó ở Trung Quốc có quan hệ với giới quân sự, Bắc Kinh đang ngày càng gây hấn hơn", ông phát biểu trước Thượng viện Mỹ hôm qua (26/7).

Trước sự lấn lướt của Trung Quốc trong yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, hôm nay, Chủ tịch UB Quốc phòng Hạ viện Philippines Rodolfo Biazon tuyên bố đây có thể là lúc Philippines đề nghị LHQ triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình để ngăn chặn xung đột vũ trang giữa hai nước ở khu vực tranh chấp.


"Vào ngày 21/6, nội các Trung Quốc đã thông qua thành lập cái mà họ gọi là thành phố Tam Sa. Đây rõ ràng là hành động đơn phương khi tạo lập một cơ quan chính quyền ở khu vực mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền. Thành phố mà họ tạo lập sẽ quản lý hơn 200 hòn đảo, bãi đá, vỉa đá ngầm bao trùm 2 triệu km vuông mặt nước", ông Webb nhấn mạnh.

Ông cũng cáo buộc Trung Quốc "đưa dân" và "lập đơn vị đồn trú" trên hòn đảo nằm trong khu vực tranh chấp lãnh thổ. Ông Webb nằm trong nhóm nghị sĩ đã đưa ra nghị quyết được Thượng viện Mỹ phê chuẩn tháng 6/2011 về giải quyết tranh chấp Biển Đông. Ông đã lên án Trung Quốc "từ chối" giải quyết vấn đề ở một diễn đàn đa phương.

Thượng nghị sĩ Webb còn chỉ trích việc Trung Quốc sử dụng sức mạnh trong khu vực và kêu gọi giải pháp hòa bình, đa phương trong các tranh chấp hàng hải ở châu Á.

"Họ yêu sách vấn đề này chỉ nên giải quyết song phương. Tại sao lại thế? Vì họ có thể lấn át bất kỳ nước nào trong khu vực này. Đó là sự vi phạm luật pháp quốc tế". Ông Webb cho rằng, quan điểm của Trung Quốc "đi ngược lại" với tuyên bố sẵn sàng làm việc với ASEAN để phát triển một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông.

"Vấn đề rất phức tạp, tôi sẽ thúc giục Bộ Ngoại giao làm rõ tình hình này với Trung Quốc cũng như với cơ quan của chúng ta ngay lập tức", ông Webb yêu cầu.

Một ngày trước đó, thượng nghị sĩ John McCain đã mô tả quyết định triển khai quân đội của Trung Quốc ra hòn đảo trong khu vực tranh chấp ở BIển Đông là "hành động khiêu khích không cần thiết". Ông nói, quan điểm của Trung Quốc đã củng cố "mối lo ngại ngày càng lớn" trong nhiều quốc gia châu Á khi các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ngày càng mở rộng của Bắc Kinh không hề có cơ sở theo luật pháp quốc tế.

Vietnamnet.vn >>>
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 2 Tháng 7 30, 2012 1:24 pm

Bản đồ Trung Quốc 1904 không có Hoàng Sa, Trường Sa

Bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” (Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của TQ được thực hiện dưới thời nhà Thanh) xuất bản năm 1904 ghi rõ cực nam TQ là đảo Hải Nam, không hề bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa.


Hơn 30 năm giữ trong tay tấm bản đồ quý, sau khi tra cứu, dịch lại nội dung in trên bản đồ, tiến sĩ Mai Hồng, nguyên trưởng phòng tư liệu thư viện - Viện Hán Nôm, quyết định chia sẻ bằng cứ lịch sử mình có.

* Ông có thể cho biết tấm bản đồ này đã tới tay ông như thế nào?

- Tôi có được bản đồ từ những năm 1977-1978, trong thời gian làm công tác quản lý một kho sách Hán Nôm. Thời gian đó, việc sưu tầm các tài liệu về bản đồ không thuộc chức năng bảo quản của nơi tôi công tác (giờ là Viện Hán Nôm). Không hiểu xui khiến thế nào, hôm ấy một cụ già chuyên bán sách cho cơ quan tên là Nguyễn Văn Cồng (Phú Xuyên) giới thiệu tấm bản đồ này và khuyên tôi nên mua nó. Tôi giấu gia đình trích hơn một tháng lương ra mua bản đồ về.

Image

Dòng chữ Hán này đọc từ phải sang có nghĩa: Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ


- Được biết đây là một tấm bản đồ quý, được làm một cách công phu và dài hơi...

- Đúng vậy, “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” của NXB Thượng Hải in năm 1904 có chất liệu bằng giấy, được in màu, có bìa cứng ở ngoài, gấp gọn lại như một cuốn sách. Bên trong là hơn 35 miếng ghép dán trên nền vải bố (cũng may nhờ chất liệu này nên bản đồ vẫn còn giữ được nguyên dạng sau một khoảng thời gian dài), kích cỡ mỗi miếng ghép khoảng 20x30cm. Do đọc được chữ Hán, sau khi có bản đồ, tôi dịch nghĩa lại khoảng 600 chữ cổ đã giải thích một cách rõ ràng xuất xứ, niên hiệu, thời gian thực hiện bản đồ.

Theo đó, đây là một công trình tiếp thu phông tư liệu từ đời Tần, đời Hán, rồi được viết liên tục trong gần hai thế kỷ (1708-1904), từ thời vua Khang Hi đến thời vua Quang Tự, một tấm bản đồ được đích thân các hoàng đế nhà Thanh huy động lực lượng giáo sĩ, những người tài giỏi về thiên văn và toán pháp điền dã thực hiện.

Image

Tiến sĩ Mai Hồng chỉ vào tấm toàn đồ Trung Quốc, dừng lại ở cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam. Không hề có Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) trong tấm bản đồ quý và chính thống này - Ảnh: Việt Dũng

Cụ thể hơn, năm Mậu Tý Khang Hi 47 (1708), vua Khang Hi tuyển các giáo sĩ phương Tây như Bạch Tấn Lôi Hiếu, Tư Đỗ Đức Mỹ, ban đầu với mục đích chế tác Vạn lý thành đồ. Vào năm 1711, vua sai các giáo sĩ đi tới khắp 13 tỉnh đo đạc đất đai. Từ đấy, trong gần 200 năm, các nhân sĩ Trung Hoa và phương Tây sưu tập khảo cứu các dư đồ Trung Quốc, gia cố bồi tập thêm từ các nguyên cảo của các giáo sĩ đã soạn thảo trước đây. Có những vị giáo sĩ phương Tây rất uy tín đã giúp vua Khang Hi nhà Thanh lập bản đồ có thể kể tên như: Lợi Mã Đậu (Matteo Bicci), Thang Nhược Vọng (Joannes Adam Schall Von Bell.), Nam Hoài Nhân (Ferdinandus Verbiest)...

Năm 1904, NXB Thượng Hải chính thức xuất bản tấm bản đồ Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của triều đình nhà Thanh với lời giới thiệu của Sái Thượng Chất, chủ biện (tương đương với giám đốc bây giờ) đài thiên văn ở Dư Sơn.

Giao lại bản đồ cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Ngày 4/7, tiến sĩ Mai Hồng đã chủ động liên hệ, giao lại bản đồ cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia bảo quản và trưng bày. Thông tin từ bảo tàng cho biết khi tiếp nhận, đây là một bản đồ nguyên vẹn, chiều ngang 115cm, chiều dọc 140cm. Bảo tàng đang làm các thủ tục bảo quản sơ bộ, hoàn thiện hồ sơ, làm thủ tục nhập kho (đăng ký giá trị pháp lý hiện vật) trước khi trưng bày. Buổi lễ tiếp nhận bản đồ sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào sáng 24-7 với sự tham gia của một số nhà sử học.

Image
Tiến sĩ Mai Hồng đã cất giữ tấm bản đồ quý chứng minh các quần đảo biển Đông không phải của Trung Quốc - Ảnh: Việt Dũng



* Những cứ liệu lịch sử hữu ích có từ tấm bản đồ này là gì, thưa ông?

- Trong tấm bản đồ này, chủ biện Sái Thượng Chất có lý lẽ rất khiêm tốn, đánh giá cao thành quả của các giáo sĩ phương Tây, những người vốn đi trước Trung Hoa về thiên văn và toán pháp. Chủ sự bản đồ cũng ghi nhận nhìn vào bản đồ “rõ ràng như trong lòng bàn tay”, đặc biệt “tại các cửa biển ở các miền duyên hải đều phỏng họa các đường thủy tàu thuyền ra khơi vào cảng”, trong đó không hề xuất hiện hình in, vẽ, tính toán, đo đạc tới các quần đảo ở biển Đông. Chính họ tự nhận đất đai mình tới cực nam Trung Quốc chỉ tính đến đảo Hải Nam.

* Ông suy nghĩ gì khi quyết định công bố tài liệu này?

- Theo tôi, tấm bản đồ gốc này cung cấp một số thông tin rất tốt cho việc tranh biện trên bàn quốc tế, một bằng cứ đến từ chính Trung Quốc sẽ tránh cho chúng ta việc bị lấn át. Đây cũng có thể là một tài liệu tốt để các học giả nghiên cứu chủ quyền biển đảo trong nước sử dụng.

Image
Đại Nam nhất thống toàn đồ (bản đồ Việt Nam vẽ năm 1834) đã có Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam - Nguồn: NXB Bản Đồ

Địa đồ chính thống, giá trị cao

Bức “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” này thuộc nhóm địa đồ độc lập in thành bức rời với kích thước khá lớn (115 x 140 cm), trong lịch sử hai triều Minh - Thanh của Trung Quốc, nhóm địa đồ in rời kích thước lớn loại này có gần 60 bức.

Về kỹ thuật trắc địa, “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” ứng dụng kỹ thuật phương Tây với hệ kinh vĩ độ khá chuẩn xác, gần giống như các bản đồ ngày nay. Đây là địa đồ được thực hiện bởi quan chức chuyên môn ở đài thiên văn - một cơ quan nhà nước của triều Thanh. Vì vậy, có thể nói bức địa đồ này mang tính chính thống. Là loại địa đồ hành chính, bức địa đồ này có tầm quan trọng ngang với Đại Thanh đế quốc toàn đồ 1905 và có giá trị cao hơn bức địa đồ chuyên ngành bưu chính có trước đó là Đại Thanh bưu chính công thự bị dụng dư đồ (1903, Trung - Anh văn đối chiếu).

Theo Baodatviet.vn, Tuoitre.vn
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi nguoinguon » Thứ 3 Tháng 7 31, 2012 9:51 pm

Hâm mộ toppic cũng như cá nhân bác Fo. Làm một phiếu đẫy toppic lên nào.
:vn TRUNG QUỐC LÀ CỦA VIỆT NAM :vn
Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một lúc
Nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay
Hình đại diện của thành viên
nguoinguon
Trưởng thôn bản QBO
Trưởng thôn bản QBO
 
Bài viết: 1321
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 5 31, 2007 10:35 am
Đến từ: Rốn trời

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi focus » Thứ 6 Tháng 8 03, 2012 8:30 am

'Trung Quốc đang xâm lược bằng tàu cá'

Theo ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam, việc Trung Quốc "xua" 23.000 tàu cá xuống Biển Đông là hành động dùng ngư dân để xâm lược vùng biển của nước khác.
> 9.000 tàu Trung Quốc sẽ đánh cá ở Biển Đông 'Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam'
Nhật báo Trung Quốc ngày 2/8 cho biết hơn 14.000 tàu cá đăng ký tại tỉnh Quảng Đông xuất phát đến Biển Đông từ ngày 1/8 để đánh bắt. Tại tỉnh Hải Nam, khoảng 9.000 tàu cá cùng hơn 35.600 ngư dân đã ra đánh bắt tại biển Đông sau khi lệnh cấm hết hạn. Lệnh cấm này áp dụng từ ngày 16/5 đến 1/8, trên các vùng nước mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Trước thông tin này, ông Nguyễn Việt Thắng cho hay, ngày 2/8, Hội nghề cá Việt Nam có văn bản phản đối. Hiện, Hội đang theo dõi sát thông tin vì các tàu cá này cũng vừa mới xuất phát. Theo ông Thắng, trong hoạt động đánh bắt bình thường, không bao giờ có chuyện cùng lúc hàng chục nghìn tàu cá ra khơi cùng lúc, dù từ trước tới nay, các tàu Trung Quốc đã khai thác ở Biển Đông.

Image
Các tàu cá của tỉnh Hải Nam chuẩn bị ra khơi. Ảnh: Hndaily.

"Nếu vì mục đích đánh bắt, hơn 20.000 tàu đi chắc chắn không hiệu quả. Hành động xua tàu cá tiến xuống Biển Đông chẳng khác nào dùng ngư dân để xâm lược vùng biển của nước khác, uy hiếp, đe dọa các quốc gia khác", ông Thắng nói.

Theo Hội nghề cá, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam cần theo dõi hoạt động của tàu cá Trung Quốc, nếu các tàu này xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế mà không xin phép thì cần phải ngăn chặn, đuổi ra ngoài. Bên cạnh đó, Hội cũng tiếp tục phát đi thông báo đối với ngư dân Việt Nam, động viên ngư dân kiên quyết bám biển, giữ ngư trường; thông qua đó, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Ngày 1/8, Hải Nam Nhật báo dẫn nguồn Sở Ngư nghiệp và Hải dương tỉnh Hải Nam cho biết tỉnh này sẽ mở rộng phạm vi khai thác nghề cá trong khu vực của cái gọi là "ngư trường Tam Sa", hướng dẫn ngư dân đóng tàu lớn hơn, ra vùng nước sâu hơn ở khu vực quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam và bãi đá ngầm Macclesfield mà Bắc Kinh gọi là “quần đảo Trung Sa”.

Trong khi đó, theo số liệu năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Việt Nam có hơn 126.000 tàu cá. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 25.000 (xấp xỉ 20%) tàu có khả năng đánh bắt xa bờ.

Nguyễn Hưng ( nguồn Vnexpress.net )
1. Đơn giản không có nghĩa là không đẹp.
2. Cần nói đúng sự thật, lời ton hót chỉ biện hộ cho s gi to <focus>
Hình đại diện của thành viên
focus
Bạn không thể rời QBO
Bạn không thể rời QBO
 
Bài viết: 3476
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 11 23, 2006 4:04 pm
Đến từ: Đồng Hới

Re: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!

Bài viết chưa xemgửi bởi taczan » Thứ 6 Tháng 8 03, 2012 11:04 am

Khựa buôn bán từ Đại Vệ nào trẻ em, phụ nữ, nội tạng, gỗ huê, móng trâu bò, râu bắp, đĩa, ốc bươu vàng, chè bẩn... Ngược lại phía Hồ Cầm Đao lại tuồn bạc giả, thực phẩm độc hại, đồ chơi trẻ em chưa chất gây K vào Đại Vệ...vừa phá hoại kinh tế, vừa hủy hoại nòi giống. Thắc mắc đem hỏi tay Đại biểu nhưn dưn cỡ bự ở gần nhà "Rứa răng mà đ/c? là anh em? Là 16 chữ vàng khè?...". Đại biểu lên lớp, hắn dạy rằng "Đã có Đảng và Nhà nước lo, cần đéo gì ngữ như ông. Ông lại bị nhiễm âm mưu diễn biến hòa bình của địch rồi, liệu thần hồn lo mà mần ăn, ko có ngày rục xương". Nghe xong ớn lạnh sống lưng, tạch đến già...ko thôi lại bị cho là...
taczan
Tôi yêu QBO
Tôi yêu QBO
 
Bài viết: 919
Ngày tham gia: Thứ 3 Tháng 1 12, 2010 11:57 pm
Đến từ: Bùn đất sau lũ

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về • Vấn đề & Thảo luận

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến103 khách