Hà Văn Quan - Ông quan 12 đài sách

  

Hà Văn Quan - Ông quan 12 đài sách

Bài viết chưa xemgửi bởi nguoinguon » Thứ 5 Tháng 10 30, 2008 8:46 am

Hà Văn Quan (1827 - 1888) - Ông quan 12 đài sách
Bài viết của tác giả Vĩnh Nguyên trong : DANH NHÂN QUẢNG BÌNH

Nói 12 đài sách là cách nới lễ trọng của dân chúng, của bà con dòng họ Hà Văn sau này, chứ thực sự lúc ấy có thể gọi là 12 gói có phong giấy hồng điều, hoặc giấy vàng mà thị giảng học sĩ Hà Văn Quan sung phó sứ đi Yên Kinh(Bắc Kinh) trở về dâng lên vua Tự Đức.
Với một ông quan văn hay chữ tốt và mê sách như vậy nên về sau vua Tự Đức có lời rằng: "Cả thiên hạ có 4 bồ chữ, riêng Trẫm có 2 bồ, thiên hạ một bồ, Hà Văn Quan một bồ" thì sự đề cao này không phải là quá đáng lắm.
Hà Văn Quan lúc nhỏ tên là Hà Văn Trù. sau đó là Hà Văn Quý rồi đổi tên là Hà Văn Quan
Hà Văn Quan hiệu Vĩnh Xuyên, tự Tử Thạch sinh ngày 4 -8 Đinh Hợi tức ngày 19/8/1927 tại làng Vĩnh Tuy, tổng Long Đại, phủ Phông Lộc nay là thôn Vĩnh Tuy, xã Vĩnh Ninh, huyện Quảng Ninh. Cha là Hà Văn Nhàn(Đồ Nhàn) đổ tú tài khoa Tân Tỵ niên hiệu Minh Mạng.
Lớn lên trong một gia thế có truyền thống hay chữ. ông 6 tuoit đã đi học, ông học chăm chỉ thông minh. Ông thường tập viết trên đá, trên bẹ tre, trên mo cau nên nét chữ rất đẹp. Ông theo học tú tài Nguyễn Đình Dung làng Phú Nhuận, càng học càng tấn tới, có năm ông đứng nhất trường.
Tính tình ông hiền hậu, thích nói lời hay làm việc tốt, cư xử ông hòa với mọi người, kính người bề trên, trọng người bề dưới. Sau đó thầy Dung được về làm giám thị trên tỉnh, gia đình cho ông theo thầy về tỉnh để học tập.
Thiệu Trị năm thư 7, Hà Văn Quan đổ tú tài khoa Mậu Thân(1848)
Năm 28 tuổi, đổ cử nhân khoa Ất Mão (1855)
Hai năm sau, Bà Đồ mất, ông nói"có nước mà chưa được uống". Ý nói mẹ chưa được hưởng bổng lộc gì mặc dầu con đã đổ đạt. Và bởi chịu đại tang, ông chưa muốn thị lên bậc học cao hơn.
Tự Đức năm thứ 18(1865) khoa Ất Sửu, ông thi Hội đổ Phó bảng, được phong chân Nội các kiểm thảo, bổ Đồng tri lĩnh huyên Gia Lộc rồi chuyển đi phủ Bình Giang(Hải Dương). Quan phủ thấy Hà Văn Quan tâm địa tốt, làm việc chu đáo bèn làm sớ dâng lên, Hà VĂn Quan được thăng chức Thị độc lĩnh Quản đạo Hà Tĩnh
Năm thứ 26(1873) Gia thị giảng học sĩ được sung phó sứ đi sứ Yên Kinh(Bắc Kinh). Khi đi sứ về Hà Văn Quan được bổ Hồng lô tự khanh biện Lý bộ binh.
Năm thứ 28 (1875)hà vua bảo:" Văn Quan bổ làm quan chưa lâu, muốn cho Quan được thông thạo thêm các vùng đất khác", bèn chuẩn đổi bổ đi án sát Ninh Bình. Nhưng Hà Văn Quan dâng sớ xin ở lại Kinh để học tạp chính thể. Vua cho phép. Năm ấy có cuộc duyệt binh lớn về trận pháp cả thủy binh lẫn bộ binh. Hà Văn Quan chỉ huy lớp lớp quân binh nghiêm chỉnh nên được ban thưởng Kim Tiền.
Năm thứ 31(1878) Ông được cất lên Binh bộ hữu thị lang và sung chủ khỏa trường thi Nam Định rồi nâng lên hàm Thự tham tri.
Hà Văn Quan lại dâng sớ tâu bày về binh chính, xin dồn lập đội ngũ, huấn luyện quân sĩ, lo liệu thêm lương thảo và rèn đúc súng ống, bố phòng cẩn mật. Lại thấy đường biển nhiều khi bị nghẽn, ông cin chọn thủy binh lập đạo tuần tiểu. các việc tâu xin đều được chấp thuạn bèn giao xuống cấp dưới coi việc xem xét, bàn định thi hành.
Có lần, Nhà vua dụ rằng:"Văn Quan làn qua là người biết lo cho nước, yêu dân, chăm chỉ, cố gắng mà nhà có cha mẹ già, vậy ban cho sân, quế, bạc, lụa là làm đặc ân". Đó là năm thứ 34(1881)
Năm sau, ông Đồ Nhàn mất, ông Quan rời chức về nhà chịu tang, chưa được bao lâu triều đình lại gọi ra làm việc, cho thăng Tham tri Binh bộ.
Kiến Phúc năm đầu(1884) Hà Văn Quan lĩnh tổng đốc Hải An(Hải Dương). Bấy giờ sự tình phức tạp, bọn Hán gia nhà Thanh xúi dân nổi biến, đường xá nghẽn trở, Hà Văn Quan một mình đến nhận chức trong bối cảnh ấy. Nưng với tài ứng xữ sắc sảo, vỗ về lòng dân, vụ biến đuwocj chặn lại,toàn hạt bình yên. Có ưu chiếu khen ngợi Hà Văn Quan.
Bấy giờ quan Pháp ngờ ông có thông thồng với dòng dõi nhà Thanh bèn bắt Hà Văn Quan đem vào Gia Định rồi mang yên trí ở đảo Côn Lôn. Mới lưu một năm thì đến năm Đòng Khánh(1886) ta kí hòa ước với Pháp.
Hà Văn Quan từ Gia Đinh trở về, bị triều đình giáng chức xuống Tham tri. sau đó, Nhà vua biêt ông là người tốt, vô tội bèn phục chức Thị lang công bộ, kiêm quản Đo sát viện. Hà Văn Quan dâng sớ từ chối nhưng không được. Rồi lại bổ Văn Quan thụ hàm trong non việc xây dựng Cần Chánh Viện. tờ biểu tạ ơn, ông nói rằng:
"Khi đem tấm thân hiếu nước đã định lấy cái chết để đền đáp; ngày đến chốn hoang vu muôn dặm, không ngờ được sống quay về"
Tờ biểu còn có đoạn viết:
"Con chim trong lòng lại được thấy tầng mây xanh mà bay liệng, con ngựa hèn trong chuồng lại được đem thử roi thúc trên con đường yên vui..."
Qua hai đoạn văn tau biểu trên cho ta thấy rằng, Hà Văn Quan là người yêu nước, trung Quân đến mực nào và xét riêng về mạn văn chương chữ nghĩa thì lời văn của Văn Quan cũng thật trau chuốt êm đềm mà cũng không kém phần hóm hỉnh.
Tháng giêng năm thứ 3(1888) Thượng thư hình bộ sung cơ mật viện đại thần Hà Văn Quan lâm bệnh, mất tại chức. Đó là ngày 5/4 năm Mậu Tý(tức ngày 15/5/1888. Hưởng thọ 62 tuổi, nhà vua cấp cho tiền, lụa rất hậu, cho đội chưởng vệ hộ tống thi hài về an táng tại quê nhà.
Con, cháu, họ tộc nội ngoại xây lăng cụ Thượng- Hà Văn Quan giữa cánh đồng làng Vĩnh Tuy, đầu "gối" đỉnh Mâu Sơn, chân "gác" sông Nhật Lệ.
Đến năm 1965 đồng làng quy hoạch lại bờ thửa bờ vùng để chạy máy cày nên mộ cụ phải di dời. Con cháu họ tộc lại dời mộ cụ về nghĩa trang họ Hà Văn ở bậc Đệ Nhị Phái, đầu "gối" mái Trường Sơn, chân "gác" hồ nước Điều Gà của làng Vĩnh Tuy, nơi chôn rau cắt rốn của ông.
Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một lúc
Nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay
Hình đại diện của thành viên
nguoinguon
Trưởng thôn bản QBO
Trưởng thôn bản QBO
 
Bài viết: 1321
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 5 31, 2007 10:35 am
Đến từ: Rốn trời

Bài viết chưa xemgửi bởi nguoinguon » Thứ 4 Tháng 12 10, 2008 9:27 am

Về đời tư, Hà Văn Quan có 3 phu nhân:
I. Chánh thất phu nhân: bà Phùng Thị Kỷ, người cùng làng và cùng tuổi Đinh Hợi với ông Quan.
Sinh hạ các con:
1. Hà Văn Khai
2. Hà Thị Biền
3. Hà Văn Trinh
4. Hà Văn Phổ
5. Hà Văn Siêu
6. Hà Thị Tựu
7. Hà Văn Kháng
8. Hà Văn Mân
9. Hà Văn Tạc
10. Hà Thị Bá
II. Thứ phu nhân: Bà Nguyễn Thị Mậu quê Tuy Lộc, Lệ Thủy, Quảng Bình
Sinh hạ các con:
1. Hà Thị Hiệu
2. Hà Văn Tự
III. Tam phu nhân: Bà Nguyễn Thị Chanh, quê làng Vũ Vỹ, xã Minh Tân, Kiến Thụy, Hải Phòng.
Sinh hạ các con:
1. Hà Văn Lữ
2. Hà Văn Long
3. Hà Văn Phùng
4. Hà Văn Ngân
5. Hà Văn Đông
6. Hà văn Phố
7. Hà Thị Lý
Hiện phần mộ của bà chánh thât và bà thứ phu nhân được cát táng trong nghĩa trang Hà tộc hai bên tả hữu Hà Văn Quan, mộ tam phu nhân vẫn ở Kiến Thụy, Hải Phòng.
Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một lúc
Nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay
Hình đại diện của thành viên
nguoinguon
Trưởng thôn bản QBO
Trưởng thôn bản QBO
 
Bài viết: 1321
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 5 31, 2007 10:35 am
Đến từ: Rốn trời


Quay về • Nhân vật - Lịch sử

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron