ĐỊA DANH  10/05/2007  
Làng Đức Phổ, một địa danh của TP Đồng Hới - Quảng Bình

Dọc trên đường quốc lộ 1A, từ Bắc vào, qua khỏi thành Đồng Hới khoảng 200m đến Quảng Bình Quan, rẽ phải theo đường Lê Lợi 1,5km là đến địa phận làng Đức Phổ. Nay là xã Đức Ninh thuộc thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình.






Qua nhiều thập kỷ, với những biến động của lịch sử, làng vẫn gìn giữ được dáng vẻ một miền quê nông nghiệp hiền hoà, lớn mạnh và không ngừng đổi mới.

Làng Đức Phổ có từ bao giờ?

Đến nay chưa ai xác định được một cách chính xác, vì các văn bản chữ Hán, chữ Nôm, gia phả các dòng họ của làng hầu hết đã bị mất mát do bị giặc đốt cháy, thất lạc do lũ lụt, mưa bão.

Qua nghiên cứu tư liệu lịch sử, các phả tộc dòng họ và những sưu tầm truyền tụng trong dân gian, chúng ta cũng đã tìm được một số cứ liệu cơ bản về sự ra đời và phát triển của làng Đức Phổ. Đây là một làng xưa còn tiềm ẩn và lưu giữ nhiều nét văn hoá độc đáo. Tuy chưa phải là làng trong bát danh hương, nhưng dưới các triều đại phong kiến cũng như từ khi có Đảng lãnh đạo, dân làng luôn đoàn kết tạo nên sức mạnh giữ gìn truyền thống lịch sử tiên tổ, gia phong, yêu nước thương nòi, phụng sự Tổ quốc. Người dân tự hào làng mình là làng ăn nói: "Đức Phổ là làng ăn nói" (tục ngữ), có địa giới rộng lớn "Thượng Đâu Mâu, hạ Cồn Mắm".

Ngược dòng lịch sử của tỉnh Quảng Bình, vùng đất làng Đức Phổ thuộc châu Địa Lý nước Chiêm Thành. Đến đời nhà Lý (năm 1075) thuộc châu Lâm Bình.

Năm 1375 vua Trần Duệ Tông đổi châu Lâm Bình thành phủ Tân Bình sau cải làm lộ Tân Bình.

Đời nhà Hồ (1400 - 1407) lộ Tân Bình đổi thành trấn Tây Bình.

Khi nhà Minh chiếm nước ta (1414 - 1427) bèn đổi trấn Tây Bình làm phủ Tân Bình.

Năm 1428 vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đuổi được giặc Minh, chia nước ta thành 5 đạo, đạo ở phía Nam gọi là Hải Tây gồm bốn lộ, trong đó có lộ Tân Bình.

Năm 1470 vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đức) lại đổi lộ Tân Bình làm phủ Tân Bình, lãnh hai huyện Khang Lộc, Lệ Thuỷ và hai châu: Minh Linh, Bố Chính. Như vậy huyện Khang Lộc có từ đây.

"Về đời Hồng Đức, ở phía Nam Quảng Bình dân cư đã tiệm đông, nhưng ở phía Bắc tức là châu Bố Chánh (Tuyên Hoá, Quảng Trạch và Bố Trạch) vì ruộng xấu, đất cao, sinh kế khó nhọc nên dân cư còn lơ thơ lắm. Năm 1467 nhân có lời xin của quan thừa chánh sứ tư tham nghị Thuận Hoá là ông Đặng Thiêm, vua bèn hạ dụ chiêu tập dân gian vào khai khẩn ở châu Bố Chánh. Kể từ đời đó, lần lần mới có người vào sinh cơ lập nghiệp ở phía Bắc Quảng Bình" (Thắng - Tích - Lục của Trần Kinh và Nguyễn Kinh Chi - Trang 119 ).

Sách Ô Châu Cận Lục của tiến sĩ Dương Văn An (Tiến sĩ Dương Văn An người xã Tuy Lộc, huyện Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình, nhà ở Phù Diễn huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông sinh năm 1513 và đỗ tiến sĩ khoa Đinh Mùi năm 1547 lúc ông 34 tuổi. Làm quan phó đô đốc thượng thư tước sùng nham hầu, được tặng tuấn quận công đời nhà Mạc) viết vào năm Quý Sửu 1553, khi viết tổng luận về phong tục các làng xã của huyện Khang Lộc ông nói:" Nhân tài là do khí đất chung đúc nên, khí đất là nhờ có nhân tài mà xuất phát ". Trong quyển III bản đồ có ghi tên làng Đức Phổ số 42 trong số 72 làng của huyện Khang Lộc, phủ Tân Bình (Quảng Bình ngày nay). Điều đó chứng tỏ làng Đức Phổ đã hình thành và có sinh hoạt nền nếp trước khi Dương Văn An viết Ô Châu Cận Lục.

Ô Châu Cận Lục của tiến sĩ Dương Văn An gồm có 6 quyển ghi chép các chủ đề khác nhau về Quảng Bình như: núi sông, cảnh vật, đơn vị hành chính, phong tục tập quán, danh lam thắng cảnh, quan chế, nhân vật.

 Khi viết tổng luận về phong tục tập quán của nhân dân huyện Khang Lộc thời ấy, ông có nhận xét về làng Đức Phổ rằng: "Nâng hứng dân như hứng nước, cần nêu Đức Phổ. " -   (Quảng Bình qua các thời kỳ lịch sử - Nhiều tác giả. Trang 54)

Ý nói: Làng xưa đã biết quý trọng dân, gìn giũ và quy tụ sức dân để kiến tạo, gây dựng nên làng Đức Phổ trù phú.

Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim thì triều Lý và triều Trần, đơn vị khởi điểm của tổ chức hành chính vẫn được mệnh danh là xã. Triều Lê trong các sổ sách công văn, làng được phân biệt gọi là xã, thôn, trang, động, sách, trại, sở, phường và vạn. Trang, động, sách, trại là những xóm làng ở tiếp giáp rừng núi hoặc ở nơi sâu thẳm trong rừng núi. Vạn là những xóm làng ở ven sông, ven biển chuyên nghề chài lưới. Phường là khu các nhà cùng làm một nghề, ở quy tụ với nhau.

Triều Nguyễn từ đời Minh Mạng về sau, trong sổ sách và công văn, tất cả đều gọi là xã, mộc triện đồng của lý trưởng đều khắc chữ xã. Tuy nhiên các làng phần nhiều đã được đặt tên từ xa xưa, ngay sau khi mới được thành lập. Hầu hết là tên gồm hai chữ có ý nghĩa lịch sử, địa lý hoặc một ý niệm tốt lành, thịnh vượng, như: Đức Phổ, Lệ Kỳ, Trung Trinh, Văn La, Trung Nghĩa,...

Danh từ làng nhiều khi trong cách nghĩ còn lẫn lộn với từ xã. Nói cho rõ thì làng là tiếng thuần tuý Việt Nam, xã là do chữ Hán, có nghĩa là cái nền để tế thần đất. Cổ xưa, những người ở quy tụ với nhau một nơi, hàng năm làm lễ tế thần đất trên một cái nền. Vậy nên theo tổ chức hành chính, danh từ xã được dùng trong các giấy tờ sổ sách là một đơn vị khởi điểm của hạ tầng cơ sở, có thể xã chỉ có một xóm hay nhiều xóm. Xã Đức Phổ thời bấy giờ có nhiều xóm.

Xét về nguồn gốc, các dòng họ đã tìm được trong các gia phả và truyền khẩu thì hầu hết các họ từ các tỉnh phiá Bắc, bắc Trung Bộ như: Hà Tây, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh qua các cuộc di dân lớn từ thời Lý, Trần, đặc biệt thời vua Hồng Đức. Riêng họ Phạm và họ Hoàng, từ Thanh Hoá theo đoàn tuỳ tùng của Nguyễn Hoàng chính thức vào Nam năm 1558, đóng quân ở Ái Tử, Quảng Trị, sau mới theo Đào Duy Từ ra xây luỹ Đầu Mâu - Nhật Lệ, đã dừng lại ở đất Đức Phổ tiện việc xây cổng Võ Thắng. Họ thấy vùng này thuận lợi, nên không trở về Ái Tử nữa mà đã ở lại cùng với các họ khác xây dựng làng xã nơi đây.

Sự có tên xã Đức Phổ thuộc huyện Khang Lộc trong bản đồ đất nước thời đó, cùng với phả tộc họ Đặng, đền thờ, lăng mộ,... càng khẳng định Đức Phổ được hình thành từ xa xưa, trước lúc tiến sỹ Dương Văn An viết Ô Châu Cận Lục.

Trong quyển Đặng Đại tộc tông phả (Nhà xuất bản Văn hoá thông tin - Năm 2002), thời kỳ đầu thế kỷ thứ XIV năm 1409 niên hiệu "Trùng Quang 3" có tiên tổ họ Đặng huý là Quý, em ông Đặng Đức, ông quyền trấn trị Hoá Châu. Con cháu về sau tụ tập tại Tân Bình (Quảng Bình). Thực tế hiện nay chi họ Đặng ở Đức Phổ đông dân nhất tỉnh Quảng Bình, có trên 5200 nhân khẩu, chưa kể các nhánh ở Xuân Dục huyện Quảng Ninh và các xã ở huyện Lệ Thuỷ, đều có quan hệ với họ Đặng ở Đức Phổ.

Vì những lý do trên chúng ta có thể xác định sự ra đời của làng Đức Phổ ít nhất đã trên 500 năm về trước.

Nếu xét về tổng quan lịch sử thời kỳ Lý Thường Kiệt năm 1075, thừa lệnh vua Lý Nhân Tông đem quân bình định lấy lại ba châu Bố Chính, Địa Lí, Ma Linh từ Chiêm Thành, đồng thời chiêu mộ di dân vào vùng đất mới tổ chức khai canh mở mang thôn ấp, đặt nền móng định cư trên đất Quảng Bình ngày nay, thì làng Đức Phổ có thể ra đời thời kỳ đó.

 Do vị trí địa lý, lịch sử tỉnh Quảng Bình ngày nay là một trong những tỉnh miền Trung đã trở thành nơi dừng chân của người Việt trước khi tiến về phía Nam mở bờ cõi. Nơi đây diễn ra sự giao lưu trực tiếp giữa người Việt và người Chăm. Người Việt đã tiếp nhận di sản văn hoá Chăm (cả hữu thể và vô thể) và Việt hoá để trở thành cuả mình. Hiện nay ở làng Đức Phổ vẫn có dấu tích như: giếng nước Đài Hai và giếng Đình cấu trúc dưới đáy giếng có khung gỗ hình vuông, một số âm ngữ Chăm còn lại trong dân gian,... Môi trường sinh sống làm cho vùng đất này hình thành một truyền thống văn hoá phong phú bên cạnh nền văn hoá nông nghiệp lúa nước.

Dưới thời thực dân Pháp, trước cách mạng tháng Tám, làng Đức Phổ thuộc tổng Thuận Lý, phủ Quảng Ninh.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền về tay nhân dân, phủ Quảng Ninh đổi thành huyện Quảng Ninh.

Ngày 28 tháng 8 năm 1945 xã Trấn Ninh huyện Quảng Ninh ra đời gồm có 8 làng trong đó có làng Đức Phổ (Diêm Điền, Bình Phúc, Đức Phổ, Mỹ Cương, Phương Xuân, Trung Nghĩa, Thuận Đức, Phú Vinh).

Năm 1947, do tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ác liệt, điều kiện hoạt động khó khăn, Uỷ ban hành chính tỉnh Quảng Bình có chủ trương chuyển xã Trấn Ninh về thị xã Đồng Hới, làng Đức Phổ lúc đó lại thuộc Thị xã Đồng Hới.         

Cuối năm 1950, sau trận lụt lớn gây thiệt hại về người và của cải mùa màng, giặc Pháp lợi dụng tình hình lấn chiếm xây đồn bốt, Uỷ ban hành chính tỉnh lại giao xã Trấn Ninh về huyện Quảng Ninh, làng Đức Phổ về lại huyện Quảng Ninh.

Đầu năm 1951, Uỷ ban hành chính huyện Quảng Ninh chủ trương nhập 2 xã Trấn Ninh và Hưng Ninh thành xã Hợp Ninh gồm 14 làng, trong đó có làng Đức Phổ.

Năm 1956, cải cách ruộng đất, tỉnh có chủ trương chia tách xã. Xã Trấn Ninh  được chia làm hai xã là xã Đức Ninh và xã Nghĩa Ninh. Xã Đức Ninh ra đời từ đó gồm có 3 làng: Đức Phổ, Diêm Điền và Bình Phúc. Xã Đức Ninh được ổn định trong một thời gian dài, cho đến ngày 19 tháng 01 năm 2004 - Quý Mùi theo quyết định của chính phủ lại chia tách làm hai đơn vị hành chính là phường Đức Ninh Đông gồm làng Diêm Điền, Bình Phúc và thôn Đức Trường (là xóm Ải của làng Đức Phổ) và xã Đức Ninh là làng Đức Phổ xưa và phát triển thêm 3 thôn mới sau năm 1990: Giao Tế, Tân Sơn và Diêm Sơn.

Mặc dầu tên huyện có thay đổi từ Khang Lộc phủ Tân Bình, đến phủ Quảng Ninh - huyện Quảng Ninh và thị xã Đồng Hới, rồi thành phố Đồng Hới hôm nay, nhưng tên xã Đức Phổ xưa đến làng Đức Phổ nay không hề thay đổi và đã đi vào kí ức bao thế hệ con cháu. Nhưng do việc chia tách đơn vị hành chính cho phù hợp các giai đoạn lịch sử, nên cũng có những bất lợi trong việc lưu giữ những giá trị văn hoá khái thiết của làng.

Công đức tổ tiên khai khẩn lập làng biết bao gian khổ hy sinh để có một vùng đất trù phú màu mỡ cho dân làng an cư lạc nghiệp đời này qua đời khác và thịnh vượng như ngày nay.

Từ địa giới phía Bắc, giữa 2 làng Đức Phổ - Mỹ Cương là vùng đồi lùm lòi xưa, cây cối um tùm (cồn ông Tích, ông Địa tức là ông Đặng Tích, Đặng Địa - do làng đưa lên để bảo vệ vùng đất phía Bắc), từ chỗ doanh trại của tỉnh đội Quảng Bình đến nhà máy nhiệt điện do Liên Xô giúp, có trường Công nông nghiệp Quảng Bình khang trang đào tạo hàng ngàn cán bộ, công nhân; có đường sắt Bắc Nam đi qua. Hằng ngày từng đoàn tàu rời ga Đồng Hới xuôi về Nam, từ ga Lệ Kỳ tiến ra phương Bắc, đi qua địa phận của làng, gióng lên hồi còi rộn rã, nghe mà rạo rực lòng người.

Phía Tây dựa lưng vào Rào Chéo chạy dài một thảm màu xanh trù phú đến tận ngã ba: sông Lệ Kỳ và Rào Chéo gặp nhau tạo thành sông Luỹ mà dân gian gọi là Cồn Mắm, rồi chảy về Nhật Lệ. Đến mùa tháng 4, tháng năm, tháng tám, làng chia làm hai nửa. Cánh đồng phía Đông của làng óng ánh màu vàng lúa chín, hứa hẹn một vụ mùa bội thu; nửa phía Tây nhà nối tiếp nhà thấp thoáng dưới bóng cây vườn xanh mát. Bên kia Rào Chéo, qua cầu Đức Nghĩa là xã Nghĩa Ninh và phường Bắc Nghĩa bây giờ.

Phía đông của làng tiếp giáp với làng Bình Phúc và làng Diêm Điền.

Người xưa truyền lại rằng: buổi đầu khai canh biết bao gian khổ, dân đông mà đất đai thì ít, lại sợ "cá lớn nuốt cá bé" nên tổ tiên tìm mọi cách để giữ đất làm ăn, bèn phân công một số điền hộ đến định cư sinh sống, sinh con đẻ cái tạo thành một xóm trấn ải, làng đặt tên cho xóm đó là xóm Ải. Xóm Ải canh giữ cho sự bình yên của làng, bắt đầu là cánh đồng phía Đông Bắc. Trong lịch sử phát triển của làng, người dân xóm Ải đã cùng nhau đoàn kết lao động làm tròn trách nhiệm của làng giao cho. Những ngôi nhà của người dân nơi đây cũng đều trổ về hướng Tây, nhìn ra cánh đồng lúa vàng và hướng về quần thể làng quê Đức Phổ.

            Phía Nam làng tiếp giáp với sông Luỹ và sông Lệ Kỳ xã Vĩnh Ninh. Nơi đây có đoạn luỹ Đầu Mâu - Nhật Lệ với những chiến tích trận mạc, nỗi đau cốt nhục tương tàn của cuộc chiến Trịnh - Nguyễn. Chiến trường đau thương ảm đạm, người tử trận còn có dâu tích ở cánh đồng Mồ Ma, Mộc Sắt, Cồn Kho, Cồn Mã. Nỗi buồn của người dân thời đó còn truyền lại đến bây giờ:                  

                                                Sương sa lá đổ

                                                Núi Mâu Sơn vừa lúc hoa tàn.

                                                Sông Lệ Hải ngập cơn sóng vỗ

                                                Xao xác như gà mất mẹ

                                                Cúi kêu trời, trời chẳng hay thưa.

            Đằng sau màu xanh của làng, màu vàng của lúa, quang cảnh một vùng quê thanh bình hôm nay đều ẩn chứa nét văn hoá tiềm ẩn của một làng Việt cổ giàu bản sắc dân tộc và lịch sử thăng trầm. Làng Đức Phổ xưa có 15 xóm, nay đổi thành 11 thôn. Các xóm của làng xưa được tổ chức theo kiểu: "Tiền điền, hậu trạch" trước ruộng sau nhà và ngược lại.

            Dân gian truyền tụng từ đời này sang đời khác về địa giới của làng Đức Phổ "Thượng Đầu Mầu - Hạ Cồn Mắm" nghĩa là thuở xưa ông bà tổ tiên đã cắm cột mốc ở núi Đầu Mầu (Đầu Mâu) về đến tận Cồn Mắm là vùng đất hiện nay phường Đức Ninh Đông đang nuôi tôm cua giáp sông Luỹ. Sau này, một vùng rừng rộng lớn miền Tây đều là rừng Đức Phổ quản lý và sử dụng, nơi đó là thượng nguồn Rào Chéo.

            Cái tên Làng Đức Phổ có thể xa lạ đối với mọi người nhưng đấy là quê Ngoại của tôi; tôi đã sinh ra và lớn lên ở đó. Cái tên làng đã gắn liền với tuổi thơ tôi bởi dòng sông nước ngọt hiền hòa chảy quanh năm, những lũy tre đã che bóng mát cho tôi, tôi cảm thấy rất bình yên và ấm lòng mỗi khi nghĩ đến quê hương.

(DVH_ITDR)


Quay về
        
Các bài khác:

  Trang chủ